TRUNG HỌC NNG LM SC CẦN THƠ
  Văn hóa Nhật Bản
 
Lên mạng ngày 8/12/2010

 Thử tìm hiểu, áp dụng một mô hình phát triển văn hóa văn minh  Á châu  khác, giảm bớt  nguy cơ  tương lai Việt Nam bị  Hán Hóa,  mất gốc, mất nước chăng ? :
   
Biết rõ hơn đôi chút  các bài học lịch sử văn hóa  văn minh Nhật trước năm 2000 
  G S Tôn Thất Trình

 


Các nhà học giả Trung Hoa hay Nhật Bổn  thường không chú ý đến sự phân ngành tập quán Tây phương, cùng lúc là học giả, triết gia,  nghệ sĩ, thi sĩ, “ ông đồ ”viết chữ đẹp,  tùy bút - tiểu luận  và thường là sử gia nữa. Họ ít khi  quan niệm văn hóa họ  là một đơn vị , cũng như không bao giờ tưởng tượng văn hóa là  một điều gì khác. Cảm tưởng này của họ thấm xuống đến tận dân gian thông thường.  Cho nên văn hóa theo họ , dù chỉ là dạng phát họa đại cương phải được nghiên cứu xuyên qua mọi ngõ ngách của nghệ thuật, tôn giáo, đời sống kinh tế và xã hội cũng như mọi ngõ ngách cỗ điễn ở phương Tây, tỉ như sử học quân sự và chánh trị.  Các sự cố bên ngoài lịch sử Nhật  phải  được nhìn dưới con mắt cả hai  thái độ  và lập trường  của các diễn viên chủ yếu lẫn  thường dân, họa may mới nắm vững nhãn quan thật sự và tròn trĩnh hơn  của toàn thể. Như thế chúng ta mới hiểu được  đà sáng tạo đáng kinh ngạc thúc đẩy  nhiệt tình dân Nhật, suốt  lịch sữ lâu dài Nhật đến cuối thế kỷ thứ 20, và bất thình lình phóng họ  lên một mô hình, mà có lẽ họ cũng kinh ngạc không kém,  là xứ đứng hàng đầu thế giới thế kỷ 20. Hai đặc điểm  của dân Nhật  cần nói đến trước tiên là những đức tính  quân sự và phong kiến  và những biệt tài nghệ sĩ thiên nhiên.  Có lẽ như vậy là nhờ  Thần đạo - Shinto thiêng liêng và nuôi nấng  hai đặc điểm này dù chúng  có tính cách sơ khai,  và Thần đạo vẫn duy trì mạnh mẽ  như là một tôn giáo, trải qua nhiều thế kỷ Nhật.  

 
1-    Nguồn gốc ban đầu  lịch sử  dân Nhật
       
            Nguồn gốc dân Nhật lẫn lộn  và mờ tối. Chỉ một điều chắc chắn  là ở  các đảo nước Nhật đã có nhiều tộc dân khác không có cá tính Nhật sinh sống, trước khi chính dân Nhật đến các đảo . Một trong những tộc dân này là Ainu đã sống sót đến ngày nay , dù rằng rất bấp bênh . Ainu  thuộc  giòng giống Cáp ca - Caucasian , Đông Âu  - Trung Á, da trắng và râu rậm . Vật tỗ - tô tem của Ainu  là gấu và đánh cá và săn bắt là ngành nuôi sống tộc dân này. Họ chiếm ngự  các đảo miền Bắc, nhưng nay họ chỉ còn là một nhóm nhỏ sống tại đảo Hokkaido.
             Mắc khác, dân Nhật   thuộc tộc dân Mông Cỗ- Mongolian race , thấp hơn  các đặc điểm Mông cỗ điển hình có mắt híp , thoáng  sắc tố vàng , tóc đen , mặt dẹp hơn loại Caucasian, gò má cao, và chân tay tương đối ngắn so với  thân thể.  Đặc điểm cuối cùng này giúp thân thể bảo tồn nhiệt lượng, có thể mất nhiều nếu chân tay quá dài. Chân tay ngắn cũng như mắt híp, có lẽ là để chống lại ánh sáng tuyết chói lọi, cho nên tộc dân Nhật đôi khi được xem  là thuộc về kho bảo tồn nòi giống các tộc dân Mông Cỗ thời tiền sử ở miền Bắc Xi Bê Ri - Tây Bá Lợi Á. Trong gia tộc Mông Cỗ, ít nhất là  có hai vùng nguồn gốc chính xác phân biệt họ với các tộc dân lẫn lộn  hình thành tộc dân Nhật.  Vùng thứ nhất là Trung Á, phân biệt đáng kể ra là ngôn ngữ. Bảng vần Nhật ngữ (nguyên âm tiếp theo phụ âm ) và vài từ gốc cho thấy đôi chút đồng dạng với hai  tộc dân Hung gia Lợi - Magyar và Phần Lan. Cả ba cùng chung gốc Trung Á. Vùng nguồn gốc thứ hai cho một vài nòi giống Nhật  là miền Nam Trung Quốc.  Chứng cớ là vài đặc điểm lý học, tỉ như khổ người tương đối nhỏ, da vàng, xương xẩu mảnh mai, tương ứng  dân chúng miền Nam hơn là miền Bắc Trung Quốc . Vài  món chế độ ăn uống cũng hướng về miền Nam Trung Quốc, chẳng hạn  gạo cơm lúa nước- wet rice . Còn một vùng nguồn gốc thứ ba,  thuộc Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương thì còn trong vòng tranh cải .

 
        Vậy chớ các tộc dân này lẫn lộn và định cư thế nào trên đất liền  ?
Núi Phú Sĩ
Nhật bản là 4 hòn đảo lớn, chạy từ Bắc xuống Nam  rồi cong về phía Tây như sau: Hokkaido , Honshu ( đảo chính ), Shikoku và Kyushu và vô số đảo nhỏ; tổng số diện tích khoảng bang California, Hoa Kỳ. Khí hậu phô bày  từ tuyết rơi dày  mùa đông ở Hokkaido  đến  cây cỏ bán nhiệt đới ở Kyushu; phần lớn  nước Nhật là núi non, chỉ dành 17%  đất đai cho nông nghiệp , phụ thêm bằng một diện tích nhỏ ruộng đồi núi theo bậc thang.  Ba đồng bằng chánh nông nghiệp ở Nhật là Đồng bằng Kanto , quanh thủ đô Tokyo,  rộng chừng  1 297 000 ha, Đồng bằng  Nobi, quanh thành phố Nagoya, và Đồng bằng  Kansai, quanh các thành phố Nara, Kyoto và Osaka ở cuối phía đông Biển Nội địa - Inland Sea.  Hai đồng bằng vừa kể chỉ rộng 1/10 diện tích Đồng bằng Kanto.  Mưa nhiều và  cặm cụi làm việc , đã giúp dân Nhật  sống sót  với sản phẩm nông nghiệp, nhưng họ cũng đã phải luôn luôn bổ túc bằng hải sản: cá , sò nghêu, và rong biển.  Một nghiên cứu  của các nhà khoa học Nhật trong Đệ Nhị Thế Chiến  đã chứng minh là  hải sản, và một số lượng ít ỏi  thịt, gạo , và rau đậu  đặc biệt  là  củ cải  ( vỏ trắng hay vỏ xanh ) - radish khổng lồ đaikon giàu sinh tố  đã có thể cung cấp  một chế độ ăn uống chu toàn giá rất rẽ. Nhiều người đã lưu ý là tình trạng hải đảo Nhật rất giống Vương Quốc Anh - Great Britain. Cả hai đều đủ gần một lục địa lớn hầu nhận được kích thích văn hóa và  đủ xa xôi hẻo lánh  để tiến trào đến một lối sống cá biệt, có cơ tránh khỏi ngoại xâm. Cả hai nước đều phát triển hải quân mạnh mẽ, nhờ khai thác kỷ xảo nghề đánh cá và thương mãi. Cuối cùng, cả 2 nước  vào thời cận đại, cũng đã cố gắng mãnh liệt chế tạo công nghệ và ngoại thương để nuôi sống dân gian hải đảo. Trên phương diện địa lý, các đảo Nhật khác biệt Vương quốc Anh  vì Nhật có núi cao hơn 2 dặm Anh ( 3218m ) bên bờ rìa một  lằn nứt sàn đại dương sâu 5 dặm Anh ( 8045m ) tên gọi là Hố sâu Tuscorora Deep.  Căng thẳng  phát sinh khiến cho Nhật rất dễ bị động đất , có khi rất tàn phá.  Các đảo Nhật chứa nhiều núi lữa vẫn hoạt động. Chóp hình nón  hoàn hảo núi Phú Sĩ - Mount Fugi  là một núi lữa đã tắt ( phun lần cuối cùng năm 1707) ; nhưng núi Asama vẫn còn tích cực và  rất nhiều vòi phun cao hơi lưu huỳnh  thoát ra ngoài  lằn nứt  các núi miền Trung nước Nhật. Nhật tương đối nghèo nàn quặng mỏ kim loại: Nhật rất ít quặng sắt và dầu lữa.Than đá cũng hiếm và phẩm giá không tốt, và chỉ có đồng là phong phú. Trước thời cận đại, rừng Nhật cung cấp gỗ dồi dào đủ loại Nhật cần thiết để xây dựng nhà cửa, đền thờ  và đại gia trang  ngoài tàu thuyền và  mọi loại dụng cụ . Sông suối chảy mau lẹ không giúp gì nhiều cho giao thông, nhưng  cống hiến  lớn lao vào nguồn thủy điện.

 
      Nhật là nước chậm chân trên việc phát triển văn minh, vì lẽ các phong trào văn hóa tràn sang Nhật  phải xuyên qua phía Đông, Trung Á và Trung Quốc.  Rất ít chứng cớ  còn sót lại vào Thời Đại Đồ Đá Cũ - Old Stone Age ở Nhật. Văn hóa chánh đầu tiên  thuộc Thời đại Đồ đá Giữa-Mesolithic các giai đoạn sớm hơn, khởi đầu khoảng 3000 năm trước Công Nguyên ( CN ) - BC .  Văn hóa này có tên là Jomon, có nghĩa theo tiếng Nhật là “ Mô hình Dây thừng - Cord Pattern”  phân biệt các làm đồ gốm bằng tay, không phải đồ gốm  quay tròn trên bánh xe.  Dân gian Jomon dùng các vũ khí bằng đá và  sống  trong hốc chìm  lõm - sunkun pit , loại gia cư dân gian Trung Hoa sống thời tiền cỗ.  Dân Jomon không biết nghề nông, sinh sống bằng các đào củ,  lượm hạch quả - nut  , săn bắt thú nhỏ  trong rừng và sò nghêu bải biển.  Nhóm văn hóa thứ hai đến Nhật chậm hơn giữa 300 và 100 trước Công Nguyên , tên gọi là Yayoi, từ một vị trí  ở Tokyo  khi có nhiều khám phá  sớm hơn , tuy  nền văn hóa này  mạnh nhất ở miền Tây nước Nhật. Dân gian Yayoi  làm đồ gốm trên bánh xe  và đã biết nghề nông  khá tân tiến, trên ruộng lúa nước tưới tiêu kiểu Trung Hoa.  Rỏ ràng là dân gian Yayoi  xử dụng vừa đồ đồng thau lẫn đồ sắt , cho nên không thể nói rằng Nhật cỗ đại  đã trải qua thời kỳ  Thời đại Đồng Thau - Bronze Age một cách riêng rẽ. Các đồ khảo cổ Yayoi là: gương soi, chuông, kiếm, và giáo mác bằng đồng, một dụng cụ tế lễ, và một ít đồ vỏ khí bằng sắt. Tộc dân Yayoi cũng sống trong hốc chìm, nhưng có 2 đặc điểm rất gần lịch sử Nhật: đó là phương cách họ làm nghề nông và mái lợp ” tranh “  trên nhà sơ khai.  Các mái kiểu này ghi rõ trên các  chuông đồng thau trang trí to lớn , một đặc điểm văn minh Yayoi .

 
         Vào giữa thế kỷ thứ 3  sau CN ( AD )  văn minh Tomb , chồng lên  văn minh  Yayoi , tuy không thay thế hẳn văn hóa này. Nét văn hóa Tomb là việc xây cất  vài phòng chôn cất bằng đá và các gò mộ  đồ sộ bằng đất,  dài 500m và cao 40m. 
Haniwa, nghệ thuật cuối thời Tomb
vào thế kỷ thứ 6 thứ 7  
Các mồ và nấm mồ này tương tự  các nơi chôn cất  ở Cao Ly ( Triều Tiên, Đại Hàn ) và Tây Bắc Á , trình bày  thêm ảnh hưởng của lục địa, những gì đã đến Nhật  các thời kỳ sớm hơn. Các ngôi mộ cũng cho thấy một  giới qúi tộc mạnh mẽ có khả năng chỉ huy một số công nhân to lớn xây mộ. Liên hệ đến  các ngôi mộ là  hình dáng trên các đồ gốm bằng đất sét  màu hơi hơi nâu hay hơi đỏ  biểu hiện  đàn ông, nhà cửa, động vật, đặc biệt là ngựa. Vùng Yamato chứa nhiều  ngôi mộ nhất, và những ngôi mộ giàu sang nhất là cho các Đế vương  dòng hoàng đế  đầu tiên  của lịch sử Nhât.

 
      Nhà Hán Trung Quốc  chiếm  Cao- Ly - Triều Tiên ( Korea )  làm thuộc địa năm 108 trước CN, một triều đình  địa phương  đã hấp thu nhiều  ảnh hưởng Trung Hoa rồi. Thế cho nên  dân Hán đã  biết Nhật rỏ hơn  và triều đình Hán, năm  57 sau Công Nguyên, đã phái một sứ giả viếng thăm Nhật. Nhắc lại,  cuộc khởi nghĩa của hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị ( Hai Bà Trưng 14- 43 sau C N ) xảy ra  vào năm 40 sau Công Nguyên.   Nhưng ghi chép  cụ thể về Nhật lại từ triều đình Wei ( Vệ ), một nước chư hầu nhà Hán. Wei Chih ( Vệ Chí ?  ), năm 292 sau Công Nguyên, kể ra một  tộc dân Lùn ( Wa ) ở những vùng  được xác nhận dễ dàng  là Kyushu  và miền Tây nước Nhật, gồm 100 bộ lạc, trong đó 30 bộ lạc  đã tiếp xúc với triều đình Wei. Sử Wei ghi chép là các  nhà cai trị có khi là nam phái , có khi là nữ phải , phản ảnh  chuyễn hướng từ mẩu hệ đến phụ hệ hay ngược lại. Một quốc vương  thế lực  là Hoàng Hậu Mimeko hay Pimeko , có nghĩa là “ Con gái Thái Dương- Mặt Trời “. Ở Việt Nam , thế kỷ thứ III sau CN là  đời Bà Triệu , Triệu Trinh Nương hay Triệu thị Trinh (226- 248 ) ,  khởi nghĩa năm 246 , khi mới 20 tuổi  và bị tướng nhà Ngô là Lục Dận  đánh bại phải tự tử ở núi Tùng Sơn quận Cửu Chân ( Thanh Hóa ) năm 248. 
 

 
2- Huyền thoại Thần Đạo
                                             

 
Izanagi và Izanami 
Huyền Thoại Thần Đạo - Shinto Legends là nguồn gốc thông tin thứ ba về Nhật thuở ban sơ,  biểu hiện  một  đôi vợ chồng chủ yếu là Thần Nam Izanagi và bà vợ Izanami, đứng trên  cầu  vồng Thiên Đường, nhúng lưỡi giáo vào đại dương phía dưới. Những giọt nước chảy từ đầu lưỡi giáo đông lại thành hình các đảo Nhật linh thiêng. Một dịch bản khác cho rằng các đảo Nhật là thành quả của  hôn nhân  giữa thần nam và thần nữ. Họ đã xuống các đảo sinh sống và con cháu họ cũng là thần nam và thần nữ đất Nhật. Thần Nam cuối cùng  là Thần Lữa - Fire God , và sinh hạ thần này làm chết bà mẹ  Izanami. Izanagi  đi tìm vợ ở Âm ty, nhưng  thân thể vợ đã rữa vỡ.  Khi thần nam  trở về ánh sáng ban ngày,  qua “ Đèo Hades - Even- Pass of Hades  “ tại Izumo , phía tây  Honshu , đối diện Cao Ly. Ông tẩy sạch ô nhiễm cái chết bằng nước  sông ở Hyuga , đảo Kyushu  và nhiều thần khác phát sinh  từ thân thể ông: Thần nữ Thái dương Amaterasu từ mắt trái , Tsukiyomi, Thần Mặt Trăng từ mắt phải, và Susanowo  Thần Giông tố- Storm God   từ mũi. Thần Mặt Trăng không đóng vai trò quan trọng nào,  nhưng Thần nữ Thái Dương và Thần Giông tố  em thần nữ và sau đó là chồng bà trở thành những  nhân vật quan trọng trên Điện thờ Bách Thần Pantheon Nhật…Những truyền thuyết này phản ảnh cách thờ phụng tính chất sơ khai  của một dân gian với đôi chút khôi hài  và cảm giác mạnh mẽ;  chúng  có nhiều yếu tố  tỉ như  tầm quan trọng gắn vào  ánh nắng ( Amaterasu),   giông tố và mưa  ( Susanowo ), nhật nguyệt thực ( Amaterasu trốn trong hang  đá )  các lễ nghi sinh đẻ, không mấy khác các tôn thờ tương tự khắp thế giới .     
                                     
      Vài huyền thoại Thần đạo, cộng thêm vào  các vị trí địa lý đặc thù như Izumo và Kyushu , cũng có chứa  vài  quy chiếu  đến sự cố chính trị và quân sự hiên đại  và  là đầu mối  đánh giá cho lịch sử . Kyushu - Lưu Cầu , đảo nằm phía Nam và phía Tây cuối Nhật bổn và gần Triều Tiên, là nơi giao tiếp đầu tiên giữa người từ  Nam Trung Quốc và Triều Tiên đến các đảo Nhật. Các khảo cỗ  nhấn mạnh đến Kyushu là nơi phát sinh sớm nhất nền văn hóa Nhật và xác định  đúng theo huyền thoại cháu trai của Amaterasu là Ninigi -no-mikoto , từ Thiên Đường xuống tới một đỉnh núi ở Kyushu. Chắt của Amaterasu, Jimmu-tenno,  làm một chiến dịch chinh phạt phía Đông, dọc theo bờ biển miền Nam đảo chánh Nhật. Jimmu- tenno có nghĩa là  Chiến sĩ Thần linh - Divine Warrior, vị hoàng đế thể nhân ( con người )  đầu tiên nước Nhật, tổ tiên là hoàng đế thần linh trên trời. Chiến dịch tiến dần lên Biển Nội địa, và binh lính thiết lập  một dinh trang ở vùng Yamato , gồm luôn cả bán đảo Ise , ngày nay là nơi chứa nhiều  đền thờ  linh thiêng được kính trọng nhất của Thần Đạo.
Biểu hiệu Thần Đạo
            Tôn giáo Thần Đạo -Shintoism dù căn cứ trên thuyết vạn vật hữu linh - animism  thật sơ khai và thờ phụng thiên nhiên, đã sống sót  mạnh mẽ cho đến Nhật bổn cận đại.  Sức mạnh  Thần Đạo tuồng như  thoát thai từ  phương cách tự nhiên, như là hiện thân vô ý thức những cảm tưởng  sâu xa nhất của dân gian Nhật về Thiên nhiên và lòng yêu nước cực điểm của họ.  Thần Đạo không có người thiết lập , không có kinh thánh, không có quy tắc - luật luân lý . Thoạt tiên  Thần đạo cũng không có tên . Từ Thần Đạo có nghĩa là “ phương cách của các Thần - the way of the Gods “ , và đó là từ mượn của ngôn ngữ  Trung Hoa, lâu ngày  sau khi huyền thoại  biến thành một  truyền thống dân gian địa phương. Chữ viết ghi ý ở Nhật  có thể đọc là Kami-no-michi ;  từ kami có thể  có nghĩa là “ Thần “   hay đơn giản “ những ai bên trên “.  Không nên hiểu theo ý niệm  tính linh thiêng - holiness  liên hệ đến Thánh Thần  của truyền thống Do Thái Thiên Chúa- Judeo - Christian .  Kami đơn giản hơn  và  bản chất thần thánh Thần Đạo liên quan đến  bất cứ  cái gì  đáng ngạc nhiên và  lạ lùng trong thiên nhiên, tương đương với từ mana ( thần lực,  ma lực ) hay từ la tinh numen “ . . Những thần Thần Đạo này được thờ phụng chiêm bái không hình ảnh,  một cách đơn sơ như chắp tay vái và cúi đầu ở miếu thờ, điện thờ. Theo quan niệm kami, ý niệm  tsumi- tội ác hay tội lỗi  ở Thần Đạo,  nối kết  với lễ nghi  không tinh khiết - impurity rituals hơn là  phạm tội luân lý . Lễ nghi không tinh khiết hay ô nhiễm liên kết đến máu, thương tích, chết , có tháng ,  làm tình và đẻ con. Từ kega  có nghĩa là “ thương tích “ và “ làm ô uế “.  Tẩy uế hay  rửa sạch  tượng trưng gồm súc miệng,  khẩn thiết  trước khi cúng vái. Đó là yếu tố  kiêng kỵ - taboo và  vật thần động vật - animal fetichism   thuở ban đầu Thần Đạo,  rất giống  các tôn giáo sơ khai ở Phi Châu và nhiều nơi khác .

 
3-    Phật giáo Nhật và ảnh hưởng Trung Quốc

 
Năm du nhập chánh thức Phật giáo vào Nhật là 552 sau CN, khi hình ảnh  và các đồ vật thờ phụng  được vua xứ Paikche ở Triều Tiên  gửi tặng Nhật, hy vọng  nhận viện trợ chống vua thù địch  xứ Silla.  Không còn chút nào nghi ngờ rằng hình ảnh, kinh phật, tu sĩ đã đến Nhật từ Triều Tiên trước đó.  Và cũng chắc chắn rằng văn bản cỗ điển Khổng Phu Tử  Tàu và các sao chép Triều Tiên đến Nhật  trước năm 400. Phật giáo ấn tượng mạnh mẽ trên dân Nhật,  như thể là một tôn giáo, một hệ thống tư tưởng  tiết lộ sâu xa  và ý nghĩa về đời sống và chết chóc mà trước đó Nhật  chưa bao giờ  ngờ tớiTinh thần Nhật phản ứng  nhiệt thành đến vẽ đẹp  và nghi thức  thờ phụng của Phật giáo.  Nhưng Phật giáo chỉ đến Nhật  sau cuộc hành hương lâu dài, từ xứ phát xuất Phật Giáo . Như chúng ta đều biết  Phật Giáo  phát sinh từ miền Bắc Ấn Độ vào  thế kỷ thứ sáu trước CN ( BC ) qua kinh nghiệm bản thân  một thái tử, Đức Phật Thích Ca - Sakyamuni ( hay Gautama ). Phật giáo  bắt nguồn từ Ấn Độ giáo - Hinduism, lập ra một phần vì muốn  cải cách Ấn Độ giáo. Chẳng hạn Đức Phật-  Buddha , tiếng Nhật là Shaka Butsu, bải bỏ các giáo lý Hindu  như vai trò chủ trì cuả trí thức Bà la Môn - Brahmins , hệ thống đẳng cấp - caste systems và giá trị của  tu khổ hạnh - ascetism  thái cực ( nhưng không bỏ   rèn luyện tinh thần ). Tôn giáo mới này  lên đỉnh tột độ  ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ ba trước CN, dưới trào  hoàng đế Asoka ( trị vì  các năm  2743- 232 trước CN )  Chính sách Asoka  là gửi sứ giả truyền đạo Phật  theo các đoàn  hành thương- caravan đến nhiều quốc gia, và đặc biệt  là thái tử  đến  chuyễn hóa Phật giáo  cho Tích Lan - Ceylon ( nay là Sri Lanka ). Phật giáo cũng thay đổi theo thời gian . Hình dạng mới  quan trọng nhất là  ý niệm Bồ Tát - Bodhisattva , một nhân vật khoan dung- từ bi sắp vào niết bàn - nirvana, nhưng lại trở về nhân thế  cứu độ mọi sinh linh . Các vị bồ tát đều trở thành Phật , hiện thân Đức Phật,  ti như  Quan Âm ( Việt )  hay Kuan Yin ( Tàu ), Kannon (Nhật ) . Chính ở hình dạng  mới này gọi là Đại Thừa- Mahayana ( Greater Vehicle ) tràn sang  Đông Á, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bổn, Mông Cỗ, Tây Tạng. Ngược lại với Phật giáo Tiểu Thừa- Hinayana ( Lesser Vehicle ), gần nguyên thủy hơn , tên gọi là Phật giáo Theravada ( phương cách các trưởng lảo )  vẫn duy trì mạnh mẽ ở  Tích Lan , Miến Điện ( Burma , Myanmar ) và một vài nơi Đông Nam Á. Cả hai giáo phái Phật giáo này  đã biến mất đi tại xứ Ấn Độ nguồn gốc.

 
Phật giáo đến Trung Quốc  từ Trung Á  vào thế kỷ thứ nhất sau CN ( AD) vào triều đại nhà Hán , nhưng không mấy  phát triển,  mãi cho đến thế kỷ thứ tư ở miền Bắc Trung Quốc. Phật giáo phát triển mạnh  vào thế kỷ thứ sáu, nhờ sự ủng hộ của  các triều đại miền Bắc Trung Hoa là Wei ( Vệ ? ) và Liang ( Lương ? ). Đó là lúc Nhật  chánh thức chấp nhận  Phật giáo đến Nhật.  
hoàng tử Shotoku
Phật giáo đã gây ra tranh cải ở Nhật từ thuở mới du nhập . Đại gia đình  tộc Sogalược quân sự . Ông cũng cho là người sánh chế ra  Kana , bảng vần - syllabary Nhật bổn đơn giản  hóa  từ chữ viết Tàu  ( hán tự ) nhưng chỉ dùng cho  ngữ âm học mà thôi .   theo Phật  giáo .Cả hai đại gia đình Mononobe và Nakatomi có nhiệm vụ chánh thức  thờ phụng Thần Đạo chống du nhập Phật Giáo. Trưởng tộc Soga Umako  thắng trận Shigisen năm 587,   khiến cho tộc Mononobe phải rút lui, không còn chống Phật Giáo nữa. Soga Umako  đã đặt nữ hoàng Suiko  lên cầm quyền  và xếp đặt  cho  cháu bà này, cũng thuộc tộc Soga  và là con thứ hai của cựu  hoàng  Yomei  làm nhiếp chánh - regent.   Hoàng tử  Shotoku ( Shotoku Taishi 572 -622 ) này  là một nhân vật lịch sử Nhật đáng kể nhất.  Ông được mọi người kính nễ vì học rộng và  được thương mến vì nhân từ , đức độ.  Ông là một Phật tử mộ đạo  và đã theo học  một thượng tọa  từ Triều Tiên  sang và có nhiều liên lạc với  triều đại Trung Quốc Sui  ( Tùy ? )  rất sung mộ Phật giáo . Ông cũng theo học một học giả  kinh điển  Khổng giáo , sau đó đã rất thịnh hành ở Nhật trên phương diện  nghệ thuật lảnh đạo nhà nước .  Dân Nhật đã kính nễ hoàng tử Shitoku  nhất là vì chánh sách của ông  đã dẫn Nhật chấp nhận  các mô hình Trung Quốc thời đó  về chánh trị , tôn giáo  và nghệ thuật.  Bằng ba con đường . Thứ nhất  là ban hành một hiến pháp  gồm 17 điều  ( điều  XII  ghi rỏ là  một nước không thể có hai vua , dân chúng không thể có hai chủ nhân . Vua phải là chủ dân khắp nước  ) , mục đích là đẩy xa nhãn quan truyền thống dân Nhật là lảnh tụ tộc Yamato  đứng trên các lãnh tụ các tộc khác  theo gương kim tự tháp  thư lại triều đình Trung Quốc, chỉ có một  nhà cai trị duy nhất trên chóp quyền hành. Thứ hai là đặt  mũ hạng - cap rank ở nghi lễ triều đình Nhật ( màu sắc và vật liệu  mũ khác nhau để định hạng ) , có mục đích cũng cố quyền hành chánh quyền trung ương.  Cách thứ ba  của hoàng tử Shotoku  thành công nhất và  mới thật đóng vai trò  bậc nhất cho tương lai nước Nhật: thiết lập bang giao, thăm viếng với  triều đình nhà Sui, lần thứ nhất  năm 607  và 14 lần khác trong suốt  hai thế kỷ , lần cuối năm 838 . Nổi tiếng nhất  lần thăm viếng cuối cùng là  Kibi-no-Mabi , đến sống ở Tràng An ( nay là Tây An )  kinh đô nhà Đường ( T’ang ) 17 năm . Nhật cho là  Kibi-ho - Mabi đa  đem về Nhật  nghệ thuật đồ thêu - embroideries, đàn tỳ bà - biwa 4 dây  và trò chơi go hay cờ tướng kiểu Tàu , rất được  quân nhân Nhật ưa thích làm  huấn luyện chiên 

 
       Tuy Shotoku  là người khởi xướng suy tính kỷ lưỡng  chánh sách Tàu  hóa hay thuận theo các mô hình Trung Quốc , nhưng hoàng tử  cũng tượng trưng  đáng kể cho một vài khuynh hưởng tái xuất hiện  thường xuyên ở lịch sử Nhật bổn.  Trước hết,  ở địa vị nhiếp chánh, ông  thật sự nắm quyền hành cai trị , nhưng chỉ gián tiếp  dưới tên nữ hoàng , cô ruột ông.  Sau đó , thủ tục  có một nhà cai trị trên danh nghĩa và một nhà cai trị thật sự  trở thành thông lệ , gần như tiêu chuẩn.  Trong nhiều trường hợp,  thực thi cai trị gián tiếp  được mở rộng thêm, chánh sách của kẻ nắm thực quyền  được  một nhóm nhỏ , không xác định cố vấn, núp phía sau qui định.  Tuy họ không có lảnh tụ biết được tên , nhất trí của họ quá uy vũ khiến kẻ  nhà nắm thực quyền không thể không biết tới . Thứ đến  hoàng tử Shotoku  dẫn đạo phong trào  du nhập ý thức  những dạng mới tôn giáo, triết lý, nghệ thuật và tổ chức chánh trị  vào đất Nhật.  Tập quán  vay mượn văn hóa và kỷ thuật  được công nhận là một đặc điểm Nhật, ngay cả những ai  không biết rõ  lịch sử Nhật . Nhưng điều ít ai nhìn nhận   là cách  đặc biệt Nhật đồng hóa  vật liệu vay mượn  và làm thành một cái gì mới  cho chính mình. Nhật lại  thường cải tiến  nguyên bản nữa. Phật giáo là một thí dụ chánh yếu , khi tôn giáo  lãnh đạo  suy nghĩ tư biện này  và ảnh hưởng sáng tạo của tôn giáo đối với nghệ thuật dần dần chuyễn từ Trung Quốc sang Nhật Bổn . Tiến trình này cần trải qua nhiều thế kỷ, vì Phật giáo không thể  nắm vững , thông suốt dễ dàng được.  Về kỹ thuật cận đại, Nhật khống chế và tiến triển mau lẹ hơn, nhưng nguyên tắc  đồng hóa  chi tiết và ứng dụng thông minh  vẫn giống như nhau. Trí thức Nhật đi tìm kiếm tôn giáo mới và những nghệ thuật mới, tất nhiên không thể không bị  ấn tượng mạnh mẽ về  cảnh huy hoàng nhà Đường Trung Quốc .  Năm 618  sau CN, Trung Quốc tiến vào một thời  kỳ một quốc gia  lớn nhất , tổ chức hay nhất, văn minh - văn hóa tiến bộ nhất Thế giới.  Thời kỳ này ở Âu Châu,  Đế quốc Tây La Mã - Western Roman Empire  điêu tàn.  Nửa phía Đông  Âu Châu tuy to lớn , nhưng không địch nổi Trung Quốc. Văn minh Hồi giáo to lớn chỉ mới phát sinh. Các nhà tham quan Nhật bổn đà thích thú  và quá nễ sợ  vẻ rực rỡ   của kinh đô Tràng An - Ch’ang -an vùng Tây Bắc Trung Quốc,  Họ đã sao chép  đồ án  thành phố Tràng An   theo một mạng lưới  phố xá hình chữ nhật, khi họ xây dựng  sau đó kinh đô Nhật mới ở  Heian ( Kyoto ).  Triều đại nhà Đường rất hiếu khách , mở rộng đón chào  ngoại quốc và  đón chào ý kiến mới : Armenian, Do Thái, Triều Tiên, Ả Rập, từ  Trung Á , và dân Thiên chúa giáo  Nestorian  truyền thống Á Châu  tổ tiên  tinh thần từ thánh tông đồ Đức Giê Su Thomas , mọi người đều để lại dấu tích  tại các con đường Tràng An .  Người Nhật đem về nước  hai hệ thống   tư tưởng căn bản nay đã  hoàn toàn  Tàu hóa :  Khổng Giáo và Phật giáo . Nhật Bổn đã nhận sớm hơn Phật Giáo Tàu  từ Triều Tiên , nhưng nay nhận thêm  nhiều hiểu biết Phật giáo  và nhiều môn phái  trực tiếp từ Trung Quốc.  Ảnh hưởng của Khổng Giáo , tuy ít  tráng lệ hơn, nhưng  cũng đánh dấu và ảnh hưởng lâu dài đến  tư tưởng chánh trị và thể chế Nhật  . Đáng tiếc là vào thời gian này , Việt Nam còn là An Nam Đô hộ Phủ của Nhà Đường , chưa có độc lập lâu dài, để phát huy văn hóa văn minh riêng cho mình như Nhật Bổn , Triều Tiên .
                   
        Ảnh hưởng của tộc gia đình Soga , hoàng tử Shotoku kéo dài mãi, đến khi cuộc đảo chánh  chống Soga tục gọi là âm mưu “Vườn Đậu tía - Garden Wisteria “  do hoàng tử Naka-no Oye ( sau đó lên ngôi hoàng đế )  Kamatari thuộc tộc gia đình  Nakatomi thành công.  Kamatari  sau đó được phong làm một tộc gia đình mới gọi là Fugiwara ( Đậu tía ) . Như vậy ông ta là  thiết lập viên của  đại tộc  Fugiwara ,  sẽ chủ trì   triều đình Nhật nhiều thế kỷ , không có đối thủ làm chủ  số phận quốc gia Nhật  từ năm  857 đến năm 1160  và vẫn còn ảnh hưởng  mạnh đế triều Nhật cho đến thế kỷ  thứ 19 , dù rằng uy quyền đã trao qua tay Mạc phủ ( Tướng quân ) – shogunate.

 
             4-      Thời kỳ Nara : 710- 794 : văn hóa Tàu kích thích kiến tạo mô hình Nhật
 

Năm 710 , kinh đô nước Nhật  cố định lần đầu tiên  ở Nara , vùng đồng bằng phì nhiêu  ở  bề đáy bán đảo  Ise  và gần  cuối phía Đông Biển Nội địa Nhật.  Thuở ban đầu của vương quốc  Yamato,  Nhật không có một kinh đô duy nhất . Mỗi hoàng đế nối tiếp nhau  đều quen cai trị  từ dinh trang  mình, vì tiện lợi và  cốt để tránh  ô nhiễm lễ nghi   liên quan đến   tiên đế vừa chết , theo đức tin Thần Đạo. Học thuyết Phật giáo và Khổng giáo  khiến việc di chuyễn  hoàng cung không còn cần thiết nữa. Việc tạo ra đời sống triều đình và kiến trúc tôn giáo cũng làm cho  di chuyễn không thực hiện được. Cố định  trung tâm chánh quyền  dẫn Nhật tới thời Kỳ Nara . Lưu ý là  bảng niên đại Nhật , khác với sắp xếp niên đại Tàu và nhiều quốc gia khác là không tính theo  triều đại  mà  theo thời kỳ: tên gọi thời kỳ là tên vị trí địa lý quyền lực tỉ như Nara , Kamakura , Edo.  Chính  vào thời kỳ Nara, văn hóa Tàu và Phật giáo in sâu vào Nhật  đã đâm hoa và  sau đó  sinh trái Nhật,  hoàn toàn địa phương  và  đầy tính chất Nhật.


Đức Phật Miroku Bosatsu 
 Phật giáo tiếp tục tăng trưởng và hàng ngũ  kẻ mộ đạo Phật gia tăng , nhất là ở  giới thượng lưu Nhật. Nguyên cớ thật tình tôn giáo  lúc này, pha trộn  tham vọng chánh trị và Phật giáo, thăng trầm  theo  số phận  các đại tộc gia như Soga chẳng hạn . Tôn giáo mới  ăn sâu vào tâm trí Nhật, không còn  tùy thưộc  một  hay hai  thị tộc  nữa.  Triều đình là một kẻ hổ trợ trung thành của Phật giáo và các nhà cải cách Taika đã nói trên, tiếp theo hoàng tử Shotoku, cũng  vững vàng trọng Phật như vậy.  Trong lâu dài, Phật giáo  thực hiện một ảnh hưởng tinh lọc và  văn hiến trên các chiến sĩ  thô bạo  Nhật bổn đương thời. Phật giáo tiết lộ cho họ sức mạnh của chính nhân quân tử  và mở toang những viễn cảnh  về vấn đề đời sống, chết chóc và đau đớn theo những phương cách Thần Đạo không thi hành đươc.  Một thí dụ cụ thể là ảnh hưởng  của hình ảnh Đức Phật Miroku Bosatsu  đến  chùa sư nữ  Chuguji  Nunnery  ở NARA  từ thế kỷ thứ tám. Một trong những  đo lường mức độ  ảnh hưởng gia tăng của Phật giáo ở Nhật là số tu viện , sư , sải  gia tăng . Năm 624  hai năm sau khi hoàng tử Shotoku  mất, Phật giáo du nhập Nhật chánh thức chỉ mới  7 năm , Nhật  đã có  56 chùa tu , 816 tăng lữ, 569 sư cô, sư bà. Năm 692, con số chùa tu là  545  và cúng dường  triều đình lớn lao làm  cho Phật Giáo Nhật có khuynh hướng trở  thành  một quốc giáo.  Tuy nhiên thực sự Phật giáo không đạt tới tình trạng này, vì  các lễ lạc Thần  Đạo tại triều đình  luôn luôn được duy trì : các hoàng đế cũng như giới quý tộc  ủng hộ cả hai thể chế  Thần Đạo và Phật giáo . Ý nghĩa chuyên nhất và sự cần thiết  cố tình lựa chọn   một tôn giáo duy nhất của dân Tây Phương  đặc biệt khiếm diện ở Đông ÁĐa số dân Tàu , dân Nhật, dân Việt, không thấy gì khó khăn điều hòa đời sống họ  theo ý nghĩa , nhiều  hơn một đức tin, một tôn giáo  cùng một lúc .


Mamnyoshu
Nghệ thuật viết - the art of writing

  giúp cả Thần Đạo lẫn Phật Giáo. Ngay từ thuở ban đầu thời kỳ Nara, các huyền thoại của Thần Đạo cũ được viết  trong   Kojiki( 712 )  và Nihonji hay Nihonshoki ( Sử biên niên Nhật - The Chronicles of Japan, 720 ). Các công trình này trình bày  rỏ rệt  sự phối hợp   của Tàu với các yếu tố địa phương, chất liệu  thuần nhất tinh thần Nhật , nhưng dạng thì pha trộn cả hai. Một dạng văn chương từ thời kỳ Nara là  tập thi phú nổi tiếng tên là Mamnyoshu Bộ sưu tập  Hàng Vạn Lá - Collection of a Myriad Leaves ) , có lẽ   do  Tachibana no Moroye ( khoảng 738-756)   , một chức quyền cao cấp   Fugiwara che chở , biên soạn.  Ở thời kỳ sớm này đã có khuynh hướng là lựa chọn yêu chuộng hơn, cách trình bày đề tài  hết sức ngắn gọn  và  chính xác , cũng như   gợi lên một tâm trạng  song song mau lẹ từ Thiên Nhiên , đặc điểm của mọi thi phú Nhật sau đó. Cũng đặc biệt vắng mặt ở Nhật cũng như ở Trung Quốc là những câu thơ  hùng tráng.  Hùng vĩ trong ngôn ngữ và đề tài  là ở các thể văn xuôi lãng mạn quân sự , tỉ như ở  Taiheiki, không phải ở thi phú,  giai đoạn sớm hay giai đoạn chậm gì cũng vậy .

Phật giáo  là yếu tố chủ trì lịch sữ Nhật thời kỳ Nara, không những ở tôn giáo , văn hóa mà còn ở cả  các lảnh vực kinh tế và chánh trị nữa. Thời hoàng đế Shomu trị vì , một  Phật tử cuồng tín gồm luôn cả thời kỳ Tempyo ( 729- 748 ) vang danh về  lịch sử nghệ thuậ , khi một vài tượng Đức Phật nổi tiếng và  từ bi nhất bằng gỗ và kim loại được thực hiện.  Lúc  Shomu trị vì, Phật Giáo  đã đủ vững chắc và tự tín  để  hòa đồng với những đức tin Thần Đạo địa phương. Sư tăng Phật Giáo Gyogi ( 670- 749 ) dạy rằng  các thần linh Thần Đạo  là những  hóa thân - avatars  hay hiển linh  Đức Phật. Tạo ra nền tảng  của Thần Đạo Đôi  ( Dual Shinto ) Ryobu Shinto.  Theo thuyết này, Thần Nữ Mặt Trời Amaterasu  được thờ phụng  tên gọi là Vaicocana, Đức Phật đại vũ trụ  cai quản  thế giới ánh sáng. Chính Gyogy  cũng tự tay thu thập cúng dường dựng  tượng Phật gọi là Vaicocana  hay Daibutsu ( Đại Phật- Great Buddha )  ở thành phố Nara.  Đúc tượng Phật này là một cố gắng vĩ đại và tốn kém  tài nguyên Nhật,  cao 53 bộ Anh ( 15.9 m), nặng 500 tấn  và mạ 500 cân Anh ( 450 kgr )  vàng kim . Đầu và cỗ tượng  hơn 4,2m đúc liền một khối. Tượng Phật này hoàn thành và đặt ở đại sảnh  rộng lớn  chùa- đền thờ Todaiji năm 752.  Bốn năm sau, vài vật tế lễ chùa này  được đem về cất giữ   ở kho tàng Shosoin  gồm nhiều khúc gỗ lớn, hiện nay còn nguyên vẹn , cũng như những bảu vật của riêng  hoàng đế Shomu:  vũ khí, tranh ảnh, nhạc khí, sổ sách ghi chép điền thổ dân cư nguồn gốc Nhật như đồ gốm  công trình kim loại  từ Trung Quốc,  Trung Á  và có thể cả Ba Tư- Persia nữa . Chính trong thời kỳ Nara,  chùa  Horyuji  xây cất năm 607, bị cháy tiêu  được xây cất lại  năm 704 dưới tên là  Kondo hay 
Đại sảnh Vàng kim - Golden Hall ,
một cơ cấu đồ sộ nhưng cân xứng  theo kiến trúc nhà Đường đẹp đẽ nhất, và có lẽ là  chùa xây cất bằng gỗ  xưa nhất  trên thế giới. Tưởng cũng nên biết  chùa loại cổ nhất Việt Nam là chùa Trấn Quốc ,  đời Lý Nam Đế ( Lý Bôn hay Lý Bí 544-  548 )  xây dựng  sát bờ sông Cái tên là  chùa Khai Quốc ( mở nước ) , đời vua Lê Thái tông ( 14340- 1442 ) đổi tên là  chùa An Quốc . Đời vua Lê Kính Tông  ( 1600- 1618) bải sông lở , dân dời chùa vào hòn đảo Cá Vàng  ở giữa Hồ Tây; đến đời vua Lê Huy Tông ( 1580- 1705 ) mới đổi thành tên thành chùa Trấn Quốc . Chùa có lối kiến trúc độc đáo  khác với nhiều chùa Việt Nam, phía trước là nhà bái đường, rồi đến nhà Tam Bảo, phía sau mới là hai dãy hành lang thập điện  và gác chuông. Trong chùa có một số tượng đẹp, đáng chú ý nhất là  pho tượng Đức Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng.


Todai-ji temple ở Nara
Chính sự  kiện Phật giáo phát triễn mạnh mẽ thời kỳ Nara đã gây ra nhiều chống đối  lớn lao cho rằng  tăng lữ Phật giáo quá uy vũ  và ảnh hưởng quá xá trên hoàng đế và trên những gì được bắt đầu trở thành tôn quý dưới danh nghĩa chánh sách quốc gia Nhật . Phản ứng chống lại các tu viện  vượt nhanh  vào thập niên 760, khi một tu sĩ Phật giáo  Dokyo  cố gắng làm  nữ hoàng Koken  yêu mến mình  bằng  giải thích tâng bốc, nịnh bợ các cơn mộng và điềm báo trước. Dù đại tộc Fuyiwara muốn hất cẳng ông, Dokyo đã trở nên  người tâm phúc, đại pháp quan và có lẽ tình nhân của Koken. Nhưng năm 770, nữ hoàng Koken chết và uy quyền của Dokyo mất hết ngay.


Ba năm sau khi Kammu ( 781- 806 ) lên ngôi hoàng đế , có quyết định dời đô  đến Nagoaka, không cách xa Nara mấy về phía Bắc. Lần này không phải vì những lý do thuần khiết lễ nghi, mà một phần là cố thoát khỏi ảnh hưởng “ xấu xa”  các đại tu viện Nara. Kinh đô đóng ở Nagoaka chỉ 10 năm.  Hoàng đế Kammu , sau khi  hỏi han cặn kẽ các nhà chiêm tinh (thầy bói địa lý), lựa một vị trí  mới, nay là Kyoto cận đại,  và đến  định cư ở Kyoto năm 794. Kinh đô mới là đồ án vĩ đại, tên là Heiankyo hay Kinh đô  của  Yên tĩnh Vĩnh Cửu -  Capital of Eternal Tranquillity , có họa kiểu mạng lưới hình chữ Nhật như Nara, chiếu  theo đường hướng  kinh đô  rực rỡ Trường An đời Đường. Nhật bổn vào thời kỳ này không có đủ tài nguyên như Trung Quốc để hoàn tất đồ án Kyoto. Thế nhưng cố gắng phi thường này chứng tỏ  là Nhật bổn  thật sự muốn  tiến  đến  kiểu văn minh Trung Quốc, nhưng theo cách của chính Nhật bổn . 


 

               5- Mô hình Nhật bổn  thời kỳ Đầu Heian ( 794- 857 ) , thời kỳ Cuối  Heian hay  Fugiwara ( 858- 1158 ) ,  thời  kỳ Chấm Dứt  Heian ( 1158- 1185 )  và  Giới Chiến Sĩ xuất hiện.

                 

Hoàng Đế Kammu

Thời kỳ Đầu Heian  ngắn ngủi  có đặc điểm là  Trung ương giảm bớt quyền kiểm soát  các lảnh thổ mới ở phía Đông và phía Bắc và những phát triễn mới của Phật giáo. Lúc mới  lên ngôi hoàng đế, Kammu đã phải đương đầu với sự thiết lập hai kinh đô kế tiếp nhau, nhưng vẫn phải  lo âu đến  những vấn đề cấp bách, vì sự chuyễn động của tộc dân Ainu  ở miền Bắc Nhật. Những ruộng  lúa tốt đẹp của đồng bằng  Kanto, dần dần  bị dân giang hồ tứ chiến Nhật chiếm, khi họ  tiến về Đông rồi về Bắc. Một mặt họ phải làm ruộng , mặt khác họ  chống cự , vì  cuộc tiến tới của họ bị tộc dân Ainu tranh chấp . Ainu đã chiếm cứ các lảnh thổ này từ thời tân thạch, thời kỳ đồ đá mới-neolithic . Những chiến công  của dân Nhật miền Đông thời Nhật ban sơ , đã được ca tụng nhiều và họ cũng bị động viên  thường xuyên  đi chinh chiến ở Cao Ly ( Triều Tiên ) từ thế kỷ thứ  tư đến thế kỷ thứ sáu. Năm 663, quân đội Nhật thất trận ở Triều Tiên và vương triều đồng minh Paikche bị vương triều Silla và nhà Đường phá tan.  Dù cho Ainu có kháng cự, đa số dân Ainu  sinh sống hòa bình  cùng kẻ mới đếnĐịnh hướng lan tràn  loại chánh quyền kiểu Tàu, thu nhận ở Cải Cách  Taika, không nuôi nấng  tinh thần chiến đấu  binh sĩ hay tướng tá . Hệ thống dân quân  làm các binh sĩ thiếu kỷ xảo, tinh thần chiến đấu thấp hèn  và các cấp chỉ huy là đồ kiểng  hơn là tướng tá.

                        Vào lúc này, các năm 805và 806, 12 năm sau khi thành lập Heian,  một sự cố cặp đôi xảy ra, đem lại một phát triễn đáng kể  cho Phật giáo ở Nhật, nhưng không  giải thoát  kinh đô mới khỏi  những căng thẳng chánh trị do tôn giáo đưa tới  như ở Nara.  Đó là 2 năm, hai nhà sư học giả nổi bật SaichoKukai, đạt quyền uy tột đỉnh, trở về Nhật sau một thời gian học hỏi ở Trung Quốc. Saicho ( sau đó được tôn danh là Dengyi Daichi ). Chùa tu viện Enryakuji của Saicho, thiết lập trước cả kinh đô Heian, tự tạo một thanh thế lớn, vì chùa được sử dụng để bảo vệ kinh đô khỏi những ảnh hưởng thâm hiểm đến từ Quỷ Môn Quan ( Ngõ Quỷ - Demon Entrance), hướng Tây Bắc thiếu may mắn.  Hơn nữa, vài thần Thần Đạo  được thờ  như thể thần núi.  Không muốn làm phật lòng  đức tin Thần Đạo, đặc biệt ở vùng Yamato , Saicho đến sùng bái  một trong những thần này có tên là Sanno- Vua Núi
Nhờ vậy Phật giáo Ấn Độ,  Thần Đạo Nhật và Chiêm Tinh Tàu , thảy đều được phần nào bảo vệ , theo tinh thần tu viện  Enryakuji  hiến cho kinh đô .  Khi từ Trung Quốc trở về , Saicho còn đem theo học thuyết môn phái Tendai vào Nhật. Tenđai có nghĩa là “ Thiên lĩnh-Heavenly Platform “ hay cương lĩnh thụ phong.  Môn phái  Tendai có thêm ưu thế, khi Hoàng đế Nhật  cấp cho  môn phái Tendai  quyền thụ phong  các tăng lữ Phật giáo,   như các môn phái cũ ở Nara. Môn phái Tendai cường thịnh  hẳn lên, Cuối thời kỳ ở dãy núi Hiei rải rác có đến 3000  đền thờ, nhà thờ nhỏ, tu viện.

Nhà sư Saiko
Nhà sư Kukai

                            Nhà sư thứ hai trở về Nhật là  Kukai hay Kobo Daishi  đến núi Koya ở vùng Yamato , phía Đông Nam kinh thành.  Ông cải cách thành dạng Nhật  một môn phái quan trọng khác  là Shingon - Thế giới Thật sự.  Môn phái này  cũng trở nên uy vũ  và đối thủ tranh quyền Tendai, có khi làm rối loạn cả vương quốc Nhật .  Một nhà sư học giả khác Ennin ( 793- 864 )   cũng học đạo ở Tràng An từ  các nhà sư Tàu và Ấn Độ , được hoan nghênh khi trở về Nhật, đem kinh điển  và  các vật quí giá thờ phụng bí truyền rồi lan tràn khắp Nhật . Ông cũng đựợc vua phong làm Daishi như Saicho và Kukai.


                           Phần lớn  thời kỳ  Heian  do đại tộc  Fugiwara chủ trì. Ảnh hưởng của dòng họ này bắt đầu trước cả thiết lập kinh đô Nara .  Như đã kể trên chính thiết lập viên dòng họ Fugiwara Kamatari  là khiến trúc sư Cải Cách Taika .  Theo thời gian  và qua nhiều đấu tranh, chi nhánh Hokke  ở phía Bắc đã trỗi dậy thành những lảnh tụ Fugiwara , nhờ trước tiên  kiểm soát điền địa, ruộng đất căn bản liên tục quyền uy chánh trị ở Nhật. Nhưng một phương tiện lớn nhất để  đại tộc Fujiwara  sử dụng  duy trì quyền uy chủ trì  chánh trị   là liên tục kết hôn với đế triều.  Đại tộc Fugiwara  cố thu xếp  để các con gái  họ  trở thành vợ hay nàng hầu, cung phi  các đế vương Nhật kế tiếp nhau;  thật sự không cướp đoạt quyền  nhưng cốt bảo vệ ngôi vàng. Không như Trần thủ Độ lập mưu cho Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng , sau đó  bắt Lý chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh năm 1226, cướp ngôi nhà Lý, lập ra nhà Trần.



 
Nữ sĩ Murasaki Shikibu

                             Thời kỳ Heian có vài sự kiện lịch sử văn hóa Nhật đáng kể là  khi Michizane, một nhiếp chánh khi hoàng đế còn nhỏ tuổi sessho, lên chức  nhiếp chánh khi hoàng đế đã lớn tuổi kampaku - độc tài dân sự , bị thất sủng  từ chối làm đại sứ sang Tàu, lấy cớ là triều đại nhà Đường đang suy thoái , rồi sắp xếp để  bải bỏ những chuyến  Nhật tham quan  ở Tàu. Vì dân Nhật có cảm tưởng  là đã hấp thu hết mọi điều Tàu có thể cung cấp. Đã đến lúc, Nhật phải tiến tới  hình thành toàn diện văn hóa  riêng cho Nhật, căn cứ trên các tài nguyên  đã nhận được.  



Thứ hai là nữ sĩ Murasaki Shikibu , thị nữ của nữ hoàng  Akiko, đã dùng lối viết Nhật  kana ( thay vì dùng cách viết hoàn toàn Tàu )  viết ra  truyện  nổi tiếng  Genji Monogatari - Chuyện của Genji (  Arthur Waley, New York, dịch ra tiếng Anh năm 1955 ) vào năm  1008, được xem là  công trình văn chương Nhật lớn nhất . Khả năng mô tả những rung động con tim , tinh cảm  sầu muộn khao khát thoáng đôi chút tinh thần Phật Giáo, những câu chuyện yêu đương của hoàng tử trẻ tuổi Genji  thường được so sánh ngang hàng các truyện  Jane Austen và Charlotte Bronte, các câu aware no mono - mọi điều ảm đạm , buôn bả  của Genji  rất giống  câu Virgil , nhà văn thời Cỗ La Mã: Sunt  lacrimae rerum et mentum  mortalia tangun-  Mọi điều là nước mắt  và những  câu chuyện yêu đương nhân sinh  nghiệt ngã chấn động  con tim .   


                    Cuối thời kỳ Heian ( 1158-1185) là  lúc giới chiến sĩ nổi lên  và chiến tranh Gempei xảy ra. Vào thời kỳ này, trọng tâm  uy quyền chánh trị  ngã từ phía  hoàng đế  và quí tộc triều đình qua các thủ trưởng các gia đình chiến sĩ, từ kinh đô Kyoto qua cách dinh trang trong nước, từ những ai có chức tước cha truyền con nối  và cai trị  dưới thể thức một chánh phủ dân sự kiểu Tàu qua  những lảnh tụ các  thị tộc, mới hay cũ,  đã  chiếm đất đai  và quyền uy cho họ  bằng đao kiếm và cánh tay mặt mạnh mẽ. Theo truyền thống bảo thủ Nhật,  mọi đặc điểm cũ vẫn tồn tại - hoàng đế , quí tộc , chức tước và kinh đô cũ -, nhưng chúng  dần dần biến thành  những tượng trưng trống rỗng, vì quyền uy đã  lọt vào tay  kẻ khác.  Chiến tranh  giữa hai  đại gia  đương thời lấy tên của  từ danh xưng Tàu Gen“ mà tiếng Nhật địa phương gọi là “Minamoto “  và “ Hei “ , Nhật gọi là  Taira. Phối hợp theo ngữ âm học thành “ Gempei “. Thời kỳ này, Nhật vẫn gọi là Heinan, nhưng lảnh đạo đã rỏ rệt chuyễn từ đại tộc Fujiwara qua các gia đình chiến sĩ. Dù rằng cả hai thị tộc Taira và Minamoto chia sẽ quyền hành ở các tỉnh, Taira trở nên  lực lượng ưu thế  ở Nhật , nhờ  ảnh hưởng của  Taira Kiyomori,  trở thành thủ trưởng thị tộc mình  năm 1153 và không có đối thủ, mãi cho đến khi ông chết  năm 1181. Kiyomori  được  cựu hoàng đế Go- Shirakawa nghe lời,  đã dùng vị trí ông ở triều đình, gia sản giàu có tăng gia và ảnh hưởng  thị tộc của ông ở  vùng Biển Nội Điạ.  Vài công trình ông xây dựng đáng kể ra là  hải cảng,  đào vét kinh  và phát triễn thương mãi với Trung Quốc, những giá trị  vĩnh viễn cho Nhật bổn.

Bi kịch phổ thông Kabuki
 kabuki                         Chiến tranh Gempei  đầu tiên xảy ra tháng 9 năm 1180  ở Ishibashiyama, và trận thứ nhì  vào mùa thu năm  1183.  Một hư cấu  truyện hiệp sĩ vang danh ở Nhât kể ra là chuyện  Yoshinak bị giết  sau khi chống cự mãnh liệt ở cầu Uji , năm 1180. Chiến tranh Gempei giữa các thị tộc  là nguồn chánh cho các tiểu thuyết truyền ký  làm vui thích  nhiều thế hệ cử tọa Nhật ở sân khấu  bi kịch phổ thông- Kabuki  hay ở các bi kịch cỗ điển- No, tạo ra  một lý tưởng dũng cảm và trung thành cho hết thảy mọi dân Nhật.  Ảnh hưởng của lý tưởng này  thấm nhuần suy tư và lịch sử Nhật, kéo dài đến thế kỷ thứ 20. Tình trạng Nhật cận đại , lẽ dĩ nhiên,  thay đổi mau lẹ theo phát triễn kỷ thuật. Nhưng ít nhất , mãi đến gần đây, những tên tuổi  nổi tiếng thời Trung Cỗ Nhật có lẽ  đã  hiện diện thân thiết hơn trong trí óc dân Nhật, còn  hơn cả những tên tuổi tương tự ở trí óc dân Tây Phương hiện đại như Philippe II  của Pháp , Frederic  Barbarossa, HenryII của Anh Quốc ,  Eleanor  of Aquitaine , Richard I  Coeur -de -Lion ( vua nước Anh  từ 1189 đến  1199, khi chiến tranh Gempei vừa chấm dứt ), Saladin ( kẻ chống đối  vua này  thời  Thập Tự chinh- Crusade thứ III ) và Walther von der Vogeldweide ở Đức


Zen 
                       Đối với các chiến sĩ thời Trung Cỗ Nhật, đạo Zen - Thiền

( tiếng Tàu là Ch’an )  là đức tin  tôn giáo  phổ thông nhất. Zen căn cứ  trên thủ lệ  Phật giáo Ấn Độ thuở ban đầu  tìm sự giải thoát  trong mặc niệm. Nhưng ở Trung Quốc, Thiền hòa lẫn với nhận thức  Lão giáo  trên cá nhân , độc lập, hòa đồng với  thiên nhiên và trật tự, làm ra môn phái Thiền -  Ch’an.  Nhà sư Eisai du nhập môn phái Rizai đạo Thiền  đến Kamakura, bản doanh của Yorimoto năm 1191, khi Yorimoto còn sống. Đệ tử  của Eisai là Dogen  du nhập thêm một môn phái Zen khác  môn phái Soto, năm 1227.  Cả hai môn phái Zen này còn thịnh hành ngày nay  ở Nhật .
Samurai
                          Tinh thần hiệp sĩ - chivalry của chiến sĩ Nhật thường được liên kết  với qui tắc danh dự hiệp sĩ  Trung Cỗ Tây Phương . Điểm khác biệt lớn nhất  là  phẩm giá hiệp sĩ cho phụ nữ, không bao giờ có  ở qui tắc Nhật cho đàn bà  và những kẻ yếu đuối.  Đông Phương Trung Cỗ Nhật  không biết ca tụng tình yêu  và  thờ phụng  tính trạng phụ nữ .  Chính ngay ý tưởng nghiêng về nữ giới  sẽ là một cú sốc lớn  cho dân Nhật. Động cơ những cư xử  dũng cảm và chịu đựng nhẫn nại không tưởng tượng nổi của hiệp sĩ Nhật  có 2 nguồn : từ kiêu hảnh và danh dự và từ trung thành cho một lảnh chúa , còn trên trung thành  đối với hoàng đế hay đối với tôn giáo. Hiệp sĩ Nhật  thiếu  khả năng của hiệp sĩ Trung Cỗ Tây Phương, nói lên  sức chiến đấu cho một chính nghĩa lý tưởng.

 
                        Đối chiếu với sử Việt Nam chiến tranh Gempei  giữa các “sứ quân “ xảy ra sau  cả thời  Đinh Bộ Lĩnh ( 924- 979 ) dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi vua năm 968, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư , thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay. Sau  khi vua Đinh Tiên Hoàng bị Đổ Thích ám sát, Lê Hoàn ( 941- 1005 ), lên ngôi vua năm 980, đánh  thắng quân nhà Tống xâm lăng, ở trận  đường thủy Bạch Đằng và  ở  trân đường bộ Ải Chi Lăng, chăm lo xây dựng và bảo vệ  đất nước; đối nội chống cát cứ địa phương xây dựng “ hạ tầng kinh tế “ , chánh trị thống nhất ; đối ngoại  nhu thuận nhưng cương quyết.  Thời nhà  Lý , sau khi Lý Công Uẩn ( 974- 1028 ) , quê ở tỉnh Bắc Ninh cũ, con nuôi của thiền sư Lý khánh Vân , em Thiền sư Vạn Hạnh ( có truyền thuyết cho ông là con của Vạn Hạnh ? ) lên ngôi vua năm  1010,  dời đô qua Thăng Long ( Hà Nột ngày nay )  là con đẻ hay con tinh thần của các vị cao tăng xuất sắc , thực sự là con ưu tú của  trung tâm kinh tế Cổ Pháp  - văn hóa Lục Tổ Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ 10. Nhà Lý là thời Phật giáo cường thịnh nhất ở Việt Nam .       

 
6-      Thời kỳ Kamakura ( 1185- 1336 )  hay thời kỳ chánh phủ quân sự Shogun 

Minamoto Yorimoto
Sau khi thắng trận  Dan-no- ura năm  1185 , Minamoto Yorimoto hiển nhiên làm chủ nước Nhật. Ông đạt địa vị này  sau một kế họach lâu dài  và suy nghĩ cặn kẻ, luôn luôn cũng cố địa vị ông trên phương diện chánh trị , nhưng lại trao quyền hành quân cho người khác , tỉ như cho Yoshitsune, có  tài hành quân hơn ông .  Tuy nhiên địa vị của ông vẫn còn  ảo hơn là thực. Ông cố tâm làm cho mình không còn bị tấn công được nữa bằng các biện pháp hành chánh họa kiểu can đảm và đơn giản,  kềm theo vài vụ ám sát thận trọng.  Uy quyền của Yorimoto căn  cứ trên giới chiến sĩ mới . Ông đắn đo thiết lập  và duy trì  trật tự ưu đải này . Cương vị vỏ sĩ samurai được định nghĩa và điều hòa, và không một ai có thể khẳng định  địa vị - thân thế này,  nếu không  có phép của Yorimoto. Samurai thường là chiến sĩ cỡi ngựa mặc áo giáp khắp người  và có cờ  mang theo  huy hiệu mình. Lẽ dĩ nhiên là có nhiều loại chiến sĩ - chinh phu khác , không có thân thế samurai, đi bộ chiến đấu và mặc áo giáp mỏng. Một giới nhỏ hơn và được ưu đải hơn là go- kenin hay “gia tộc đánh kính trọng”.  Phải là  thân thế samurai trước rồi mới được  gia nhập go- kenin, nhưng thật ra  hai loại nguồn gốc khác nhau: samurai xuất thân từ hàng ngũ quân sự , còn go-kenin là  liên hệ thái ấp, phong kiến .
            Ba bộ phận trung ương chánh quyền Kamakura là  Samurai -dokoro ,  Mandokoro  và  Monchujo. Samurai - dokoro ( “ phòng Dịch vụ hay phòng  Trật tự “) ,  thường được dịch là Ban  Tùy Tùng-  Người Hầu ( Board of Retainers ) . Ban này  lo mọi việc làm nhiệm vụ quân sự, thưởng phạt các chiến sĩ; nhưng sau đó  nới rộng quyền uy đến những lĩnh vực lớn rộng hơn, lưu tâm đến đời sống riêng tư  của binh sĩ, hôn nhân của họ , bạn bè, tiêu khiển, tóm lại những gì liên quan đến  lòng trung thành tối hậu đến cấp trên.Thời chiến tranh, Samurai-dokoro đảm trách chức vụ của Bộ Tổng Tham Mưu. Mandokoro hay Hội đồng - Council, cấp cao nhất làm chánh sách cho nền cai trị của Yoritomo.  Đứng đầu Mandokoro là một giám đốc hay Shikken. Sau năm 1203,  Hojo Tokimasa  giữ chức vụ này  và trở thành cha truyền con nối cho dòng họ ông. Bộ phận thứ ba là Monchujo  hay Ủy Ban Điều tra - Board of Inquiry .  Bộ phận tòa án này là  tòa án kháng cáo cuối cùng , quản trị  luật nhà Minamoto.  Thoạt tiên giới hạn  vào gia tộc Minamoto  và các  tùy tùng, nhưng vì luật này là luật duy nhất của đất nước Nhật đương thời, giải quyết mọi tranh tụng khắp xứ , ngay cả các nhà quí phái  từ kinh đô, cũng khởi sự đến Kamakura xin xét xử . Năm 1190,  Yoritomo  được phong chức tước danh dự cao nhất là Nairan . Nhưng chức vụ ông khao khát  là Shogun - Mạc Phủ hay Thống chế chỉ huy Quân sự ( Tướng Quân ) Suprême Military Commander, chỉ huy  mọi lực lượng quân đội  dưới danh nghĩa của hoàng đế Nhật.  Nhưng Go- Shirakawa  không muốn phong chức này cho ông . Mãi đến năm 1192 Go- Shirakawa chết, hoàng đế vừa ẩn dật Go- Toba  mới phong cho Yorimoto chức Shogun.

 
            Thật ra chức Mạc Phủ ,Tướng Quân-  Shogun đã có từ  thời chiến tranh xâm chiếm chống tộc dân Ainu. Hoàng đế Nhật  phong chức vị này cho một tướng đặc biệt , giới hạn trong một thời gian thôi. Tuy nhiên, Yoritomo lại xem chức vị này  là quyền  cho ông và các tử tôn ông  vĩnh viễn  để cai trị  Nhật, dưới danh nghĩa của hoàng đế .  Chánh phủ ông và các  con cháu kế tiếp  được xem là  bakufu - chánh quyền lều chỏng  lính “Tent government” hay chánh quyền quân sự. Sau khi Yoritomo chết năm  1199,  uy quyền  Shogun -Mạc Phủ không  còn nằm lâu dài trong tay  gia đình ông  nữa,  mà lọt vào tay gia đình Hojo,  trước tiên là  Tokimasa,  cha vợ Yoritomo, rồi đến  con Tokimasa là  Yoshitoki , và cháu là Yasutoki. Các ông họ Hojo này không thật sự là shogun , nhưng họ thật sự nắm quyền hành, nhờ giữ chức  shikken- giám đốc Hội Đồng Mandokoro,  Hojo Tokimasa dành được năm  1203.  Lúc  này,  chức vụ Shogun   trở thành hư vị, thường do một hoàng tử  máu mũ hoàng đế nắm giữ.  Thế nhưng  dòng họ Hojo đã  trung thành cũng cố địa vị,  dù họ khởi sự bằng bạo lực và  đã cống hiến cho Nhật bổn  gần một trăm năm tương đối yên tĩnh. Một điều dị thường lạ lùng  trổi dậy ở  chánh phủ Nhật  là một hệ thống cai trị gián tiếp  phức tạp  không tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới .  Ở Kyoto, hoàng đế  trên danh nghĩa,  nhường quyền cho một nhiếp chánh  Fujiwara. Nhiếp chánh này lại nhường quyền  cho một  hoàng đế đi tu hay ẩn dật . Nhưng hoàng đế lại không  thực sự nắm quyền  mà trao lại trước hết  cho một shogun quân sự mạnh mẽ; rồi thì lại do một nhiếp chánh  dòng họ Hojo ở Kamakura  thực sự cầm quyền dưới danh nghĩa của Shogun .

 
           Suốt thế thứ 13 còn lại , các nhiếp chánh Hojo  duy trì được hòa bình nội địa. Chính họ  cũng nêu gương  sống thanh đạm , căn cơ và  thi hành trung thành  chức vụ .  Thế nhưng vào quý thư tư thế kỷ này , một đe dọa lớn xảy ra ở nước ngoài. Triều Tiên không đủ mạnh   và Trung Quốc cũng không  đủ tham vọng tấn công Nhật bổn. Nhưng dân Mông Cỗ là một  điều khác hẳn , vì nhiệt tâm không nguôi Mông Cỗ chinh  phục thật là không bờ bến.  Triều Nguyên- Yuan hay Mông Cỗ  chiếm lĩnh  toàn thể Trung Quốc năm  1280, Sau khi đánh bại nhà Nam Tống -  Southern Sung  và  nhà Nguyên  theo lịch sữ Tàu trị vì ở Trung Quốc  từ năm  1280 đến năm  1368 . Thật sự  Mông Cỗ  đã chiếm miền Bắc nước Tàu khoảng năm 1230 .  Hốt Tất Liệt - Khubilai, Đại Hãn Mông Cỗ   đã thiết lập kinh  đô ở Bắc Kinh ( Bắc Bình ngày nay ) năm 1264.  Triều Tiên không chống nổi và bị  Mông Cỗ chiếm đóng. Năm 1268,  Hốt tất Liệt  gửi  một sứ giả sang Nhật đòi Nhật phải thần phục. Triều đình Nhật muốn điều đình , nhưng  Hojo Tokimune  và hội đồng Quốc gia quyến định chống cự và  gửi trả phái đoàn sứ giả về Tàu , không trả lời và không biết đến. Tướng già kinh nghiệm 60 tuổi Hojo Masamura được cử đảm trách công cuộc phòng thủ. . Một sứ giả Mông Cỗ khác  bị đuổi cổ khỏi Nhật năm 1272: đúng là một tuyên chiến.  Mông Cỗ tấn công năm 1274  dùng một lực lượng gồm  25000 quân Mông và  quân Triều Tiên, đổ bộ ở Vịnh  Hakata , phía Bắc Kyushu. Quân Mông  là một kẻ thù đáng kinh sợ  và có ưu điểm là quân thành thạo  về cách sử dụng  kỵ binh đông đảo cùng  máy phóng - catapults  phóng “ bom” lữa.  Nhưng quân Mông không có đủ chỗ để  hành quân . Quân Nhật một lòng dạ nhiệt tình  bảo vệ xứ sở ,sử dụng kiếm - cung hửu hiệu đến nổi bẻ gãy được cuộc tấn công của quân Mông ít nhất là một phần nào  trận đánh nhau lần thứ nhất .Đêm đến,  quân Nhật rút lui vài dặm Anh sâu vào nội địa  và núp sau các lũy đê  đã dựng lên làm công sự phòng thủ trước đó.  Giông tố đang nổi lên  và các hướng dẫn viên Triều Tiên khuyến cáo là nên lên thuyền bỏ về,  nếu không các  thuyền binh sẽ bị nằm dưới gió.  Vì một lý do nào đó, các chỉ huy Mông  lo sợ Nhật tấn công trong cơn mưa gió , dù rằng quân Nhật  thật tình đã mõi mệt không còn sức tấn công nữa.  May mắn cho quân Nhật là quân Mông quyết  định  rút lui chỉ sau một ngày  đánh nhau. Bảo tố sau đó đã đánh đắm  nhiều thuyền binh Mông và  nhiều binh sĩ  chết chìm .           

 
             Năm 1281, Mông Cỗ  lại tấn công Nhật lần thứ hai, quyết định hơn  lần trước,   tập trung 140 000 binh lính , trong số này có khoảng 100 000  người từ các tỉnh miền Nam Trung Quốc, Mông Cỗ vừa mới chinh phục xong.  Quân Hoa Nam này không có lòng dạ  đánh nhau dưới danh nghĩa của Mông Cỗ.  Quân xâm lăng  đổ bộ nhiều lần dọc bờ biển  Kyushu , đặc biệt ở Vịnh Hakata.  Nhưng nơi này Nhật đã xây đắp xong lũy tường đá  ngăn cản Mông Cỗ dùng kỵ binh sở trường.  Các chiến sĩ Nhật anh dũng chống cự và chận đứng quân Mông Cỗ  hai tháng và  không cho quân Mông Cỗ nới rộng đầu cầu bờ biển .  Trong khi đó , thuyền chiến Nhật  nhỏ hơn  nhưng dễ dàng điều động hơn đánh thiệt hại nặng các thuyền binh Mông Cỗ   ở vùng vịnh biển eo hẹp .  Hai ngày 15 và 16 tháng 8 năm 1281 , đem đến giải thoát cho Nhật .  Một trận bảo lớn  gió thổi trên 120 dặm Anh, làm hư hại nặng hơn nữa đoàn chiến thuyền Mông Cỗ.   Phần lớn binh lính Mông Cỗ và Hoa Nam  để lại trên bờ  biến thành mồi ngon cho các kiếm Nhật hoan hỉ. Nhật ca tụng bảo tố này là một  câu trả lời cho  cầu nguyện  gọi là  Thần Phong - Wind of the Gods , kamikaze .  Bakufu duy trì  chiến lũy Kyushu hơn 20 năm nữa, nhưng sau cuộc thất bại này , Mông Cỗ không bao giờ trở lại tấn công Nhật bổn .                

 
          Khác với ở Việt Nam,  giặc Mông Cỗ  xâm lăng 3 lần, trong thế kỷ thứ 13  bị đánh bại nảo  nề các năm 1258 , 1285 và 1288. Lần thứ nhất vào tháng giêng 1258 , trước cuộc tấn công vào Nhật 16 năm . Bấy giờ , Hốt Tất Liệt  đang tiến hành  cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc . Bên cạnh những đạo quân ồ ạt đánh vào đất Tống, một đạo quân  khoảng 40 000 người, gồm kỵ binh Mông Cỗ  và binh lính người Tráng - Choang hay Thoán  Vân Nam ( và Quảng Tây ? )  do tướng  Ngột Lương Hợp Thai - Uryangquadai  chỉ huy  từ Vân Nam   đánh xuống Đại Việt. Vua Trần Thái Tông ( Trần Cảnh ) đã đem quân  lên chặn giặc  ở Bình Lệ Nguyên bên sông Cà Lồ . Thế mạnh giặc ban đầu khiến quân ta phải rút lui để bảo toàn lực lượng. Sau đó bỏ luôn Thăng Long lại phía sau , nhưng triều đình và quân dân không nao núng . Giặc đóng ở Thăng Long trong một thành trống , khốn đốn vì thiếu lương thực.  Ngày 29 -1- 1258 , vua Trần Thái Tông  đem binh thuyền ngược sông Hồng, đánh bật quân địch khỏi  kinh thành, giặc phải chạy theo đường cũ về Vân Nam . Cuộc xâm lăng thứ hai xảy ra  cuối năm 1284 , do Thoát Hoan - Togan , con trai Hốt Tất Liệt và A Lý Hải Nha - Ariquaya chỉ huy ,  bị Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và quan binh nhà Trần  tiêu diệt  ở các trận Tây Kết , Hàm Tử ,  Chương Dương , Vạn Kiếp . Xâm lăng lần thứ ba cuối năm 1287 ,  đoàn thuyền Mông Cỗ chuyễn lương  bị đánh   bại ở  vùng đảo Vân Đồn, đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi- Omar bị mai phục đánh tan ở sông Bạch Đằng  ngày 9-4 - 1288, tàn quân Thoát Hoan khốn đốn rút chạy ra biên giới bị chận đánh,  đến ngày 19-4 1288  mới  về đến Tư Minh, Trung Quốc .

 
            Theo quan điểm Mông Cỗ , thất bại ở Nhật không lấy gì làm quan trọng cho lắm.  Các hoàng đế Trung Quốc không bao giờ xem các đảo xa khơi này như là một mối đe dọa hay một giá trị đáng kể , chỉ là một danh dự, một cố gắng hoàn tất chinh phục. Thế nhưng chiến thắng  đối với Nhật bổn là một  giải thoát thần diệu.  Đây là một cố tâm xâm lăng  đất Nhật linh thiêng đầu tiên trong lịch sử Nhật và cũng là lần cuối cùng, mãi cho đến  Thế Chiến thứ Hai.  Cho nên không lạ gì  kinh nghiệm chiến thắng này  đã ấn tượng mạnh mẽ lâu dài  trong trí óc dân Nhật và ký ức kamikaze được  tái xuất  để  gọi tên các  cuộc tấn công tự tử của các phi công Nhật. Theo Nhật, chiến thắng đánh bại quân Mông Cỗ  là một trong những trận chiến tranh quyết định của lịch sử thế giới.
Nichiren Shonin (1222-1282)
       Khía cạnh  tôn giáo , thoát khỏi ách Mông Cồ  được nhấn mạnh  trong niềm hân hoan  nhà sư Nichiren ( 1222- 1282 )  tuyên bố  là đã tiên tri cuộc ngoại quốc tấn công coi như thể là một trừng phạt các nhà lảnh đạo Nhật và một khải hoàn tương lai Nhật. Học thuyết  của Nichiren là một phối hợp  giữa các đức tin Phật giáo  với chủ nghĩa  quốc gia dân tộc nhiệt thành.  Cá tính bốc lữa của ông  tuồng như cảm hứng cho  các tín đồ  một  thái độ cuồng tín  để đối phó  khủng hoảng đương thời. Ông tóm tắt trong câu Namumyoho rengekyo - Hoan hô  Luật  Phi thường của Kinh Phật Hoa Sen ( Lotus Sutra ). Ông tỏ ra ít khoan dung  các môn phái khác như các lảnh tụ Phật Giáo lúc đó và chỉ trích chức quyền  đã ủng hộ các  giáo chức giả dối. Ông bị các nhiếp chánh Hojo kết án tử hình,  nhưng thoát khỏi đao phủ khi  một sét đánh  đúng vào đao. Bị đày ra một đảo cô quạnh Biển Nhật, Nichiren đã viết: chim khóc nhưng không nhỏ nước mắt . Nichiren không khóc, nhưng nước mắt Nichiren không bao giờ khô . “  Nichiren ở Kinh Phật Hoa Sen tự gán mình là một  nhà tiên tri  tương trưng cho lòng yêu mến Phật Giáo  và Nhât Bổn , vì ở tên ông,  nichi - mặt trời  có cả hai nghĩa là  Ánh Sáng của Sự Thật  Và Đất Nuớc Mặt Trời Mọc và ren  là hoa sen.
           Nichiren không phải là giáo chức ( Kinh Phật ) nổi tiếng duy nhất bấy giờ. Chúng ta đã kể ra các môn phái Zen  vào thời kỳ Kamakura. Ảnh hưởng hai nhà sư môn phái Đất Nước Thuần Khiết-  Pure LandHonen ( 1133 - 1212 ) và Shiran ( 1173- 1262 ) cũng rất lớn.
          Các nhiếp chánh Hojo mất hết quyền uy,  khi vùng Kanto nổi loạn  và lảnh tụ Nitta Yoshida   tiến đánh Kamakura, đánh bại  nhiếp chánh Hojo  cuối cùng một cách bất ngờ  và đốt Kamakura ra tro.  Trong 50 năm,  từ  1136 đến 1392,  có hai dòng muốn tranh nhau ngôi hoàng đế , dòng miền Nam ở một vị trí  ở các núi phía Nam Kyoto,  gọi là Yoshino và dòng Bắc ở Kyoto.  Tướng Ashikaga Takauji thắng trận,  đưa tới thời đại  shogun Ashikaga : phần thứ nhất  đến năm  1392  có tên là Nambokucho - Thời Kỳ Nam Bắc phân tranh ( như Trịnh Nguyễn ở Việt Nam  ? ).

 
              7 -  Thời kỳ  shogun Ashikaga ( Nambokucho 1336-1392, Muromachi 1392- 1572 ) , Thống Nhất Nhật bổn  1534- 1615. 
bình đá thời Muromachi
           Mạc phủ - Tướng quân Ashikaga khác với Yoritomo  là không bao giờ kiểm soát được toàn thể nước Nhật,  chỉ nắm vững được 8 tỉnh miền Đông   Họ phải luôn luôn mặc cả hổ trợ với các đại điền chủ và các lảnh chúa uy vũ. Thời đại dòng họ Ashikaga như vậy  là một thời đại luôn luôn có chiến tranh  với đồng minh  tan rả và tái lập  và trọng tâm  quốc gia  chuyễn xa khỏi kinh đô đến các điền trang  lớn và  các  dinh trang phong kiến.  Không có  một  triều đình tòa án- công lý  mạnh mẽ, trung ương, phong kiến  giúp Yoritomo  cũng cố cai trị, và quyền lực hoàng đế  yếu kém hẳn đi vì chia rẽ  các triều đình Nam , Bắc . Tình trạng xáo trộn ở thời kỳ này thật rỏ rệt  trên sự kiện là kinh đô  Kyoto thay đổi chủ nhân 4 lần từ năm  1353 đến năm 1355.  Sáp nhập  hai triều đình Nam - Bắc  năm 1392  làm ra thời kỳ phụ Ashikaga Muromachi,  lấy tên một quận kinh đô Kyoto .
Nghệ thuật thời Muromachi
Kiến trúc thời Nanbokucho
            Sau khi hai triều đình sáp nhập, trong nữa  thế kỷ 15 không xảy ra  chinh chiến lớn giữa các lảnh chúa địa phương.  Nhưng không thể nói là đã có hòa bình, vì xảy ra nhiều  bạo động điền địa quan trọng. Nông dân bất mãn  lập ra các hội liên minh tên gọi là ikki để tự bảo vệ.  Ikki biến thành một nổi loạn  do một hội tạo ra, vì đói kém năm 1420 và tiếp theo cũng là đói kém và dịch tể năm 1425. Năm 1428, một đạo quân lớn  nông dân nổi loạn đầu tiên tập trung ở gần kinh đô. Những nổi loạn như thế  sau đó xảy ra thường xuyên và nhiều đám đông đổ xô vào các dinh thự, cư xá  phá phách  các tiệm rượu sakê, cầm đồ  và chùa chiền, tất cả những  ai cho vay nợ , mục đích xé bỏ  chứng cớ nợ nần. Chánh quyền bakufu  cố xóa bỏ nợ nhiều lần nhưng không  có hiệu quả  và quyền uy bakufu  trở thành tối thiểu vào năm  1441. Hai năm sau, chính ngay kinh đô cũng bị  dân nổi loạn tấn công. Cố gắng  bi thảm vô ích cuối cùng là cuộc chiến Onin. Các năm 1467- 77,  shogun thứ tám Yoshimasa bị các vấn đề  chánh phủ không giải quyết nổi tràn ngập và thật ra ông ta muốn hưởng thụ nghệ thuật hơn là cai trị. Ông muốn  rút lui ở tuổi 30  và hai dòng họ  hùng cường Hosokawa và Yamana muốn vào chỗ trống này. Tháng 5 năm  1467, hai bên đánh nhau ngay chính ở thành phố Kyoto. Thành quả của nhiều tháng đánh nhau và lữa cháy thật tai hại cho kinh đô đẹp đẻ và  văn minh Kyoto. Năm  1473, cả hai thủ lãnh  Hosokawa và Yamana đều chết. Ouchi, thủ lảnh mới của Yamana rút lui khỏi Kyoto và đầu hàng Shogun.

 
            Thời kỳ  phân tán phong kiến  dưới quyền  Ashikaga trùng với thời gian kinh tế Nhật phong kiến phát triễn mạnh . Thời phong kiến thứ nhất dưới quyền  Yoritomo thời kỳ  Kamakura,  rồi đến  thời các nhà nhiếp chánh Hojo  đã thấy  chuyễn động hàng hóa và dân gian  nhiều hơn hẳn thời Nara ban sơ vào thế kỷ thứ 8 và  và bắt đầu Heinan  vào thế kỷ thứ 9. Thời kỳ Kamakura  khéo léo kỷ thuật đã làm lan tràn  chế tạo đồ gốm , giấy  và đúc sắt. Taira Tadamori  và Kiyomori cũng đã để ý tới giao thương với Trung Quốc và đã đề xướng  dịch vụ này bằng cách  ra công cải thiện  các  tiện nghi ở các hải cảng  Biển Nội Địa Nhật.  Nhưng  tăng thêm giàu có và  đời sống dân gian , nổi bật nhất là  vào thời kỳ  Ashikaga. Một sự kiện  đủ chứng tỏ điều này ; năng xuất nông nghiệp tăng  hai ba lần hơn  tại nhiều nơi trong nước, nhờ cải tiến các phương pháp canh tác  và  tổ chức thành các đơn vị kinh tế lớn hơn  mới nông trang  phong kiến.  Kinh tế  vẫn tiến triễn , nội địa hay  giao thương với Trung Quốc, dù điều kiện rối loạn. Chiến tranh ở thế kỷ thứ 14 và thế kỷ thứ 15, đã tạo ra  yêu cầu ở nhiều  vùng Nhật xa xôi  và làm giao thông tốt hơn là một  thiết yếu  tại đất lành cũng như trên biển cả . Thủ công nghệ  mở rộng  để thõa mãn đòi hỏi chiến tranh  và khi hòa bình, làm nông cụ hay những đồ xa xỉ  tỉ như tơ sợi, đồ sơn - lacquers  và nhiều đồ khác mà các lảnh chúa  nay đủ sức mua sắm . Cùng lúc , tình trạng rối loạn cũng khiến cho các thương gia  và các thủ công kết hợp nhau để cùng bảo vệ nhau, theo một hệ thống gọi là za hay phường hội - guilds, đã có từ thế kỷ thứ 12 , nay  phát triễn mạnh. Za có nghĩa là một chỗ ngồi bán hàng ở chợ búa, thường liên kết với hội chợ đền thờ - chùa chiền  dưới sự che chở của một thể chế tôn giáo mạnh. Xếp đặt cọng sinh giữa  các tu sĩ và các thương gia  có lợi cho cả đôi bên. Thương gia có lợi trả lệ phí cho chùa  và  khi cần, để  chùa giúp đở  khi họ  thưa kiện lên tòa  hay bakufu  là quyền lợi họ bị xâm phạm. Tài liệu còn ghi rỏ là chùa giúp đở thu hồi nợ .  Chẳng hạn theo thời gian, za bán áo quần bông vải liên kết với đền thờ  Gion , za làm men rượu với  đền thờ Kitano .  Các thủ kho, đồng thời là các chủ tiệm cầm đồ liên kết với thể chế  tôn giáo Enryakuji  ở Núi Hiei , một trong những tu viện mạnh  nhất Nhật bổn.  Những đại  gia cũng đóng vai trò  đỡ đầu tương tự:  Bojo  đỡ đầu các nhà làm giấy,  Kono đỡ đầu  các thủ công  làm vàng lá  và Kuga đỡ đầu  phường hội”  đĩ quý phái - courtesans”. Độc quyền địa phương bán một vài loại đồ đạc là  một đặc điểm của  phường hội Trung Cỗ Âu Châu và yếu tố này cũng thực thi ở Nhật bổn. Cũng có nhiều chứng cớ  tỏ ra là các phường hội họp lại nhau, nhưng chưa bao giờ mạnh như đại phối hợp Liên Hội-Hanseatic League ở Bắc Âu.  Giao thương vói Trung Quốc tỏ ra rất lợi. Nhật nhập cảng sắt, tơ sợi , thuốc men  và các xa xĩ phẩm như sách vỡ, tranh ảnh, đồ thêu ;  xuất cảng đồng và lưu huỳnh  và một vài hàng xa xỉ  Nhật chế tạo giỏi tỉ như quạt, đồ sơn, và khí giới đặc biệt là kiếm và bộ giáo - rìu chiến .  Năm 1483, Nhật bán sang Trung Quốc  37 000 kiếm.  Giao thương Trung  Quốc là do các thương gia, thường cũng là hải  tặc,  giặc cướp biển - pirates, nhưng ranh giới giữa hai nghề này ít khi vạch rỏ ở bất cứ nơi nào trên Cựu Thế giới.  Sau năm 1469, một gia tộc là Ouchi, ngự trị ở miền Tây đảo  lớn nhất Nhật, độc quyền buôn bán với Trung Quốc, mãi cho đến  khi họ bị một chư hầu lật đổ  năm 1557.  Shogun, bakufu thật sự không dính dáng đến thương mãi. Phần lớn thương mãi do các chùa chiền Phật giáo Nhật đảm trách , chứng minh vai trò quan trọng của Phật giáo ở xã hội Nhật.  Nhà sư -chính khách  Muso Soseki, môn phái Zen,  tổ chức một chuyến thuyền  sang Trung Quốc  năm 1342 , dưới sự hổ trợ của  shogun đầu tiên là  Askhikaga Takauji. Tiền lời chuyến này  đã giúp ông  xây dựng đền  chùa  Tenryuji temple. Tu viện Nhật không những  tài trợ các chuyến thương mãi mà còn phát triễn hải cảng nữa. Chẳng hạn, đền chùa Sumiyochi kiểm soát quyền lợi  hải cảng Sakai và tu viện cỗ Kokufuji ở Nara  quyền lợi hải cảng  Hyogo ( nay là Kobê ) . 

 
        Thời kỳ Shogun Ashikaga từ năm 1378 đến năm 1490 được mệnh danh là thời  đại hoàng kim của nghệ thuật Nhật Bổn.  Mạc phủ - tướng quân Ashikaga  có bộ mặt khác hẳn các Mạc phủ Yoritomo và  các nhiếp chánh Hojo. Khi Ashikaga chiếm địa vị chủ trì, trọng tâm quốc sự  một lần nữa chuyễn về  vùng Kyoto. Đời sống văn chương và nghệ thuật  luôn luôn vây quanh triều đình nhưng ít hấp dẫn shogun đầu tiên. Nhưng dòng Shogun Ashikaga  thứ ba Yoshimitsu   trở thành shogun năm  1368 và  shogun thứ tám  Yoshimasa  nhận chức năm 1443 và chết năm 1490,  cả hai đều ham mê  nghệ thuật  và rất hào hiệp bảo trợ nghệ thuật.  Yomimitsu  lãng phi chi tiêu cho các xẩy cất đến nổi gần xài hết ngân khố.  Yoshimasa  nhiều khả năng  và sáng tạo hơn như thể một nhà phê bình  và ân nhân  tinh tế  của kiến trúc, hội họa và bi kịch.  Đương thời, ông là một công cụ chánh yếu  làm thành thời đại được biết là  thời đại nghệ thuật Nhật to lớn nhất.

 
            Bản doanh  của Ashikaga  là ở quận  Muromachi của Kyoto, như chúng ta đã biết và năm 1378, 10 năm sau khi ông lên chức Shogun, Yoshimitsu xây dựng  Hana- no - Gosho Hoa Dinh- Palace of Flowers , có nhiều vườn lộng lẫy. Ông tiếp tục  xây cất một dinh thự  xa hoa làm nhà ẩn dật  tôn giáo, di dưỡng tinh thần ở  Kitayama, dựng lên Đình tạ nổi danh  Kinkaku hay  Đình tạ Vàng Kim -  Golden Pavilion, bị lữa đốt cháy rụi năm  1952  và phục hồi lại y hệt như xưa.

 

Kinkaku 
           Ginkaku hay Đình tạ Bạc - Silver Pavilion  , ở  phía Kyoto khác  do Yoshimasa   ủy nhiệm làm một thành phần nơi ông định ẩn dật  Higashiyama. Đất đai xung quanh và các vườn  hoa là những cảnh trí  trầm tư  và hoạt động sáng tạo cho những nhân vật  nổi tiếng  ở  nhiều lảnh vực  nghệ thuật  và bi kịch - Naomi, Geiami, Soami , Kanze  và họa sĩ tài ba Sesshu , vào những năm cuối cùng thế kỷ thứ 15.  Từ ngữ Bạc nhắc đến vài trang trí dự trù chưa bao giờ thực hiện. Đình tạ yên tĩnh và  tự kiềm chế, dựng lên ở rìa một hồ nhỏ,  có đá bước qua suối, tiểu đảo  và cầu  cũng bằng đá do  các lảnh chúa khắp Nhật đem tới. Trên đất là một đền thờ  và gần đó là một  gò đồi  cát trắng  Đắp cao thành hình nón làm ra một nền ngắm trăng, nền vọng nguyệt -  moon viewing  platform. Ngay sau đền là một xây cất nhỏ bốn chiếu- mats  rưỡi ( phòng ốc xưa cũ Nhật do bằng tiêu chuẩn tatami - chiếu đan cỏ khô  6x3  bộ - feet  Nhật ). Đây là phòng ốc trà thất lễ lạc - tea ceremony room Nhật đầu tiên .
Trà Đạo Nhật  
Tính chất khiêm tốn và lặng lẽ  của trà thất Nhật đáng bình phẩm thêm.  Ai bước vào trà thất phải để ra ngoài long trọng, tráng lệ và hoàn cảnh thế giới. Vì cửa phòng thấp nên  chỉ vào được  bằng tay và qùi gối thái độ  khiêm nhường, không  được lộ ra kiếm dao các samurai thường đeo. Khi đã vào khách viếng phải cư xữ  hợp nghi thức và dè dặt , nhưng bên trong thoải mái khi  ngắm nghía, phê bình ấm, bình, chén cỗ dùng cho buổi lễ  hay tán thưởng  cách cắm hoa đơn giản  hay một cuộn   sách - giấy treo. Thông thường , khách không  bình phẩm áo kimono  hay  tài khôn khéo của bà chủ  tiệc làm lễ  đơn giản trong thông thạo -  simple in neatness ( simplex  munditiis). Nhưng khách cần chú ý tới  cách bà sử dụng tay và mọi cử chỉ,  khi bà  trình bày  những động cử  phong tục  sửa soạn và dâng mời trà xanh , gạt cả mỗi sủi  bọt con con, tuần tự cho mỗi khách. Những cử động này y hệt  tiến triễn và chòng chành một lối vũ lễ nghi. Cả một phương cách, dù lạ lùng và  tẻ nhạt đối với  dân Tây Phương , nhưng đầy ý nghĩa đối vói mọi dân Nhật. Phối hợp  sự thoát ly ra khỏi mọi lo lắng trên thế giới, thưởng thức nghệ thuật, trò chuyện trí thức, tôn trọng một lề lối phẳng lặng và mến thương hay lễ nghi- mọi điều này trong khung cảnh trầm tư Phật giáo- giúp cho linh hồn Nhật một cảm giác  tươi mát  và hạnh phúc. Một vườn rêu rong phải hiện diện trước mặt một trà thất .

 
Kịch Saragaru
          Shogun  Yoshimitsu  khuyến khích phát triễn bi kịch no, một hình dạng cỗ điển sử dụng  phối hợp các vật liệu khiêu vũ, âm nhạc và thơ thành một loại mới và đặc thù.  Tính chất no cũng giống như tính chất neng Trung Hoa, có nghĩa là một kẻ am hiểu khéo léo.  Các kịch no là những diễn xuất am tường phối hợp thi ca hát, kịch điệu bộ câm - mime,  và vũ điệu chậm kềm theo nhạc  y phục  chi tiết và mặt nạ. Đề tài lây trong vương quốc huyền thoại, lịch sử  và ảo thuật. Một phần biểu diễn no có tên là saragaku  hay “ kịch khỉ - monkey plays “ mộy yếu tố hề  thô tục liên kết với  các lễ nghi sinh đẻ. Sau đó yếu tố hài kịch tồn tại riêng rẻ ở  kịch kyogen ,giữa các khoản nghỉ trình diễn đứng đắn kịch no. Đặc điểm này tương tự  tiến trào song song của bi kịch và hài kịch ở Hy Lạp cỗ. . Ở cả hai ca Nhật và Hy Lạp , hài kịch phụng sự  mục đích nghệ thuật  cống hiến một an ủi nhẹ nhàng, sau khi chức năng tôn giáo của hài kịch đề xướng mẫn đẻ - fertility và đẩy xa các ảnh hưởng ma quỉ, đã bị quên lãng. Ngày nay ở Nhật, kịch no dành cho những kẻ lõi đời, khôn ngoan. Người Nhật trung bình thích xem kịch “ máu  chảy và sét đánh” trực tiếp kabuki hơn.

 
            Thời kỳ  Sengoku-Jidai , thời kỳ đất nước chiến tranh   1534 -1717,   cũng là thời kỳ Nhật Thống Nhất. Vài thống nhất xúc động và trung thành đã luôn luôn có mặt  nuôi nấng bằng huyền thoại quốc gia  và sau đó bằng các lý tưởng Khổng giáo. Phát triễn văn chương và tư duy  ở thời kỳ Heian cũng đã phát sinh  cảm giác thống nhất văn hóa.  Một đôi chút thống nhất chánh trị  cũng đã do Minamoto Yorimoto rèn luyện ra, sau các chiến tranh tộc bộ  ở thế kỷ thứ 12. Nhưng tranh chấp giữa các lảnh chúa đã làm chiến tranh liên miên khắp  kéo dài đến 250 năm. Cuối thế kỷ thứ 16, Nhật trở thành thống nhất và thanh bình, theo cảm giác toàn diện và dứt khoát hơn. Niên đại này gần trùng điệp với niên đại cũng cố thành quốc gia các nước ở Âu Châu, đặc biệt thời các vua Anh Tudor  khôn khéo tập trung quyền lực. Nhưng ở Nhật, kiến trúc sư công cuộc thống nhất là các tướng chứ không phải  các vua. Thống nhất đưa Nhật vào một thời kỳ thanh bình và đồng nhất  lịch sử Nhật, thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, kéo dài cũng 250 năm. Dù nội chiến ở thời kỳ Aghikaga và chiến tranh Onin  đẩm máu vô ích , cũng có nhiều yếu tố tăng trưởng và phát triễn tích cực. Tăng trưởng đáng kể  nội thương và ngoại thương , các thị trấn  thương mãi  bừng lên , cải tiến nông nghiệp,  đưa tới những thay đổi  lớn khung cảnh quốc gia. Ranh giới giai cấp giữa  các chiến sĩ quí phái  một mặt và dân giả bình thường , các con buôn , các  nông dân mặt khác  trở nên mù mờ hơn. Mọi điều này dẫn tới suy thoái phong kiến, nhờ những vùng rào - đất lọt vào giữa, tự túc và thù địch lẫn nhau, làm cho  thống nhất xứ sở có thể làm được và mong muốn. Đáng kể là cuối chiến tranh Onin, chỉ còn khoảng 20 lảnh chúa địa phương lớn - daimyo. Những thay đổi xã hội này  cũng xảy ra ở Âu Châu, cùng thời gian. Tuy nhiên, trên một khía cạnh , lịch sử Nhật lại theo một con đường khác.  Thống nhất hoàn tất  không phải bằng cách bải bỏ phong kiến , nhưng làm “ đông giá “ phong kiến, sử dụng  vài yếu tố phong kiến  nên đồng thời cũng  làm Nhật  cô lập với  ảnh hưởng bên ngoài có thể  tạo ra những thay đổi mới (  chiếu theo sách Đông Á, Đại truyền thống - East Asia, The Great Tradition của Reishauer và Fairbank ).

 
         Thay đổi mau lẹ và làm giật mình ở Nhật vào cuối thế kỷ thứ 16 , không thể xảy ra nếu không có sự cố súng hỏa mai - musket.  Trên một khôi hài lịch sử, sự cố súng hỏa mai gắn liền với Thiên Chúa giáo đến Nhật . Năm 1542,  một thuyền Bồ Đào Nha - Portuguese  trên đường tới bờ biển Trung Quốc bị chìm ở bờ biển Kyushu và  các súng hỏa mai trên thuyền sau đó được Nhật sao chép khéo léo. 7 năm sau  năm 1549,  giáo sĩ Dòng Tên - Jesuit  tiền phong Francis Xavier  lên đất Nhật ở Kyushu  và khởi sự công trình truyền giáo, rất thành công. Đây không phải là lần thứ nhất và lần cuối Tây phương đem tới một xứ không Tây phương ,những lực lượng uy vũ  và bùng nổ  các sáng kiến và ý nghĩ Tây Phương, thường  mâu thuẩn trái ngược nhau. Tuy nhiên ở Đông cũng như ở Tây,  các mâu thuẩn không được cảm giác vào thế kỷ thứ 16. như thể  chúng ta cảm giác chúng vào thế kỷ thứ 20.

 
              Dòng Tên Cơ Đốc giáo La Mã  đóng vai trò rất quan trọng  trong cuộc tiếp xúc thời lịch sử mới bắt đầu   giữa Âu Châu và Đông Á.  Một trong những lý do sự hửu hiệu này là vì Dòng Tên là một dòng  tu cận đại,vừa mới được thiết lập, nhấn mạnh đến hiểu biết hàn lâm, khoa học và thực tiễn và một kỷ luật cao cấp. Thiết lập viên Dòng là một nhà quí phái Tây Ban Nha, sinh viên đại học  Ba Lê, tụ tập quanh ông  một nhóm người khả phi thường. Khi Đức Giáo Hoàng chấp nhận đề nghị nhóm  phụng sự đặc biệt  cho Giáo Hội bất cứ nơi nào trên thế giới, họ lập ra Hội  Dòng Tên - Society of Jesus.  Xavier trở thành nhà truyền giáo cho Viễn Đông. Tiến triễn Cơ Đốc Giáo ở Nhật do Xavier khởi xướng là nhờ hai cơ may.  Thuở ban đầu, Nhật bổn và Bồ Đào Nha  rất thiện cảm nhau .  Dân Bồ Đao Nha thích dân Nhật hơn bất cứ một dân Á Châu nào khác, có lẽ vì họ thiện cảm quy tắc danh dự Nhật. Phía Nhật,  dân Nhật cảm phục Dòng Tên vì họ  thổ lộ một kỷ luật tương tự các nhà sư Zen giỏi nhất . Rất nhiều daimyo chuyễn đạo  là những  tín đồ  Thiên chúa giáo thành thực  và trung thành . Công trình  truyền giáo Dòng Tên thành công quá sức, khiến cho các  chức quyền Phật Giáo hoảng sợ , dùng đủ áp lực  trên Chánh phủ  đuổi các giáo sĩ Dòng Tên  ra khỏi kinh đô . Họ  rút lui về  Sakai , một thành phố độc lập, nhưng không có bao nhiều ảnh hưởng trên giới buôn bán. Năm 1582 , Hội Dòng Tên ở La Mã cho biết ở Nhật có 150 000 tín đồ và  200 nhà thờ .

 
       Vào thời kỳ này , như đã nói trên, Nhật bổn chín mùi cho Thống Nhất, nhưng nhiệm vụ không hoàn thành một cách dễ dàng đâu. Ba kẻ mạnh - Oda Nobunnaga ( 1634- 1582 , Toyotomi Hideyoshi( 1536-1598 ) và tokugawa Ieyasu ( 1543- 1616)  đã thực hiện thống nhất Nhật Bổn.  Nobunaga tự tử chết năm 1582  thân thể bi đốt cháy,  bị một tì tướng Akechi đánh úp bất thình lình lúc thăm  viếng nghĩ ngơi ở đền thờ  trong  Kyoto.  Một năm sau  khi Nobunaga chết, Hideyoshi đánh bại một tướng trung thành với Nobunaga là Shibata. Bấy giờ Hideyoshi đã kiểm soát , gián tiếp hay trực tiếp  30 trong số khoảng 60 tỉnh Nhật . Hideyoshi giảng hòa cùng Tokugawa Ieyasu , một đồng minh phía đông và khởi sự cũng cố địa vị và tiến hành một chánh sách hòa bình. ông thiết lập một lâu đài ở Osaka , gần kinh đô, vì ông cho đó là nơi  tốt nhất để kiểm soát Nhật,  ở vị trí tu viên thành lũy Ikko tại Hoganji , Osaka đã bị phá hủy. Ông đã ra lệnh nghiên cứu điền thổ , đất dai , một bước tiến tương đương  Sách Địa bạ Anh  của Nhà Chinh phục William ( năm  1086 )- Domesday Book  of William the Conqueror. Công cuộc nghiên cứu bắt đầu năm 1583  và tiếp tục đến năm 1598, năm  Hideyoshi chết; lúc này đã có địa bạ của tất cả mọi tỉnh Nhật. Năm 1587 , Hideyoshi thắng trận quyết định gần sông Sendai, chống Shimazy , một daimyo ở cực nam Satsuma. Trở về căn cứ , Hideyoshi  ban hành một biện pháp bình định gọi là ” Săn Bắt Kiếm Taiko- Taiko’s Sword Hunt” , có hai mục đích : tịch thu mọi kiếm, ngoại trừ kiếm của samurai khiến cho nông dân,  nông dân quý tộc, tu sỉ nhà binh không còn khí giới nổi loạn và cũng để phân biệt rỏ ràng  giữa giới samurai và giới nông dân.  Nhưng còn đồng bằng  Kanto và  cực Bắc, cần bó buộc phải lệ thuộc. Hideyoshi đem 200 000 binh lính vây hảm thành Odawara, trung tâm Hojo ở vùng Kanto . Odawara  đầu hàng ngày 4 tháng tám năm 1590. Daimyo chánh  miền Bắc được kêu tới và chịu phục tùng. Cuối năm 1590, Hideyoshi đã làm chủ cả nước Nhật.
     Ở Việt Nam,  vào thời kỳ này , phải kể đến  Thiên Nam tứ chí  lộ đồ và Hồng Đức bản đồ  xuất bản thời vua Lê Thánh  Tông(  1460- 1466 ) còn lưu trữ đến ngày nay . ( Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng - Dòng Việt,  2000 )
         Thời Hideyoshi, Thiên Chúa Cơ Đốc Giáo tiếp tục thịnh vượng như thời Nabunaga. Thành phố Nagasaki  thực tế do các giáo sĩ Dòng Tên cai quản và thương mãi Nhật - Bồ Đào Nha tăng gia. Nhưng năm 1587, bổng nhiên  các nhà truyền giáo nhận được một pháp lệnh  cấm truyền đạo Thiên Chúa  và họ phải rời bỏ Nhật trong vòng 20 ngày. Hai lý do pháp lệnh nêu lên là vài đền thờ Phật bị phá hại và người Nhật bị bán làm nô lệ. Một số giáo sĩ đáp thuyền trở về xứ. Nhưng chừng 100 giáo sỉ ở lại và trốn núp bí mật do các giáo dân mới nhập  đạo che chở, giúp đỡ.  Theo thời gian họ nhận xét là việc cấm đạo  ít khi thi hành. Số tín đồ nhập đạo  tiếp tục tăng mau và năm 1596 , tổng số tín đồ lên đến 300 000 người , trong đó nhiều tín đồ thuộc giới thượng lưu quý tộc Nhật. Thanh niên Nhật bắt đầu bắt chước thời trang Bồ Đào Nha, có khi đeo cả chuổi tràng hạt và thánh giá. Một số từ Bồ Đào Nha được ngôn ngữ Nhật thâu nhận, tỉ như pan - bánh mì , karuto -  carto  bài tây, tempura ( tôm chiên )- quattor tempura. Một  đảo ngược chính sách tái diễn, năm 1597, một năm trước khi Hideyoshi chết. Trong một cơn giận, ông ra lệnh  tra tấn và giết chết 26 tín đồ Thiên Chúa giáo, 6 giáo sĩ  dòng Franciscan Tây Ban Nha , 4 giáo sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha  và 17 dân Nhật  tin đạo .
      Năm 1550, Bồ Đào Nha thành lập một giáo đoàn dòng thánh Đa Minh -  Dominicains ở Malacca ( nay thuộc Mã Lai Á - Malaysia )  phái giáo sĩ  Gaspar da Cruz  đến  hải cảng Hà Tiên giảng đạo, nhưng không có kết quả gì, vì dân chúng tin tưởng ở Ấn Độ giáo , Phật giáo , và không ưa chuộng những gì mới lạ của Âu Châu. Giáo khu  dòng  Đa Minh cũng phái hai giáo sĩ Y Pha Nho ( Tây  Ban Nha ) đến Cao Mên, nhưng họ bị dân chúng bạc đải, buộc phải trở về . Năm 1593,  ba thuyền chiến, tàu chở  120 binh sĩ Y Pha Nho đến Cao Miên viện binh  cho Miên chống Tiêm La ( Thái Lan ngày nay ).  Các tàu này ghé lại  Hội An - Đà Nẳng ? ( Touron - Tourane) tiếp tế lương thực .  Người Y Pha nho gây lộn và người Nhật, có người Việt ủng hộ , đốt một chiếc tàu , hai  tàu kia chạy ra biển , để lại trên bờ biển giáo sĩ  Diego Aduarte  và một tu sĩ khác. Trong thời gian  buộc cư trú ở xứ Đàng Trong,  có lẽ Aduarte đã bắt đầu  công cuộc truyền giáo . Đó chỉ là một phỏng đoán cho đến khi các giáo sĩ Dòng Tên từ Goa , Malacca  tập sự ở Macao  đến Hội An - Faifo mới thu được kết quả .( Phan Khoang : Việt sử xứ Đàng Trong, 1967 )         

              Sự cố cuối cùng của Hideyoshi là xâm lăng Triều Tiên - Cao Ly, một chiến địch động viên 250 000 người.  Chiến dịch khởi đầu  tháng tư năm 1592, chiếm hải cảng Pusan và thủ đô Hán Thành - Seoul dễ dàng, tiến tới tận biên giới Mãn Châu và toàn thể xứ Triều Tiên. Sau bất ngờ đầu tiên, Cao Ly  phản công bằng du kích. Đau ốm và mùa đông lạnh lẻo  đã làm chết 1/3  binh lính Nhật. Trung Quốc tuyên bố  Cao Ly là chư hầu Tàu và hoàng đế nhà Minh xua một đạo quân đánh Nhật ở Cao Ly. Nhật phải rút lui .  Nhật  dùng dằng giữa nên hòa hay nên chiến, khi sứ giả triều Minh đến thương lượng ở Kyoto,  muốn trao danh vị Hoàng đế Nhật cho Hideyoshi. Nhưng Hideyoshi mất bình tĩnh với  sứ giả Minh, sửa soạn một chiến dịch  mới năm 1597.  Trung Quốc  gửi thêm một đạo quân và  quân Nhật, dù đã được tăng  viện , bắt buộc phải tháo lui về bờ biển phía Nam  Cao Ly.  Nhờ viện binh Nhật từ Satsuma tới, Nhật giữ được Pusan và thắng nhiều trận đánh quânTàu và quân Cao Ly. Chiến tranh bất phân thắng bại này , kéo dài cho đến khi Kideyoshi chết,  năm 1598. Nhật lấy cớ này  để rút quân khỏi Cao Ly và  chấm dứt chiến tranh .

 
           Kế tiếp Hideyori là Tokugawa Ieyasu,  sinh năm 1543 từ một họ daimyo nhỏ là Matsudaira,  giữa hai họ lớn Imagawa và Oda. Khi Hideyoshi mất , ông đã có uy quyền lớn nhất ở Hội đồng Nhiếp chánh, có nông trang cho lợi tức 2 500 000 koku , 4 lần cao hơn  tài sản của  4 thành viên  Hội đồng. Tưởng cũng nên biết là thái ấp - đất phong của 5 thành viên Hội đồng chiếm 1/3 giá trị tất cả đất phong ở Nhật bấy giờ. Mục đích chánh của Ieyasu  là gìn giữ nền thống nhất Nhật.  Vị trí ông đạt được có nhiều người thèm muốn và ganh tị.  Năm 1600, Uesugi nổi loạn ở miền Bắc, nhưng bị hai  daimyo trung thành với Iweyasu kiềm chế . Ieyasu  lo ngại Mitsunari hơn,  vì ông này thu thập  nhiều đồng minh và  tiến đánh  từ phía Tây. Mitsunari  bị đánh bại ngày 21-  10-1600 tại đèo  Sekigahara, giữa đồng bằng  phía đông Hồ Biwa và đồng bằng bao quanh thành phố Nagoya. Dù rằng các chỉ huy  các trung đoàn  là cựu quân nhân  cuộc Chiến Tranh Triều Tiên và binh lính đông hơn, nhưng  chỉ huy  Kobayakawa  trở cờ theo Ieyasu, bất ngờ đánh vào các chỉ huy theo Mitsunari . Chiến thắng này của Ieyasu là một trận chiến khốc liệt , tàn sát dã man và cũng là trận chiến cuối cùng  của  nội chiến  lâu dài và kiệt quệ trên đất Nhật  cho đến ngày nay .

        Năm 1614 , Ieyasu quyết định  không cho dòng họ Hideyoshi tiếp tục chế độ hái ấp , vì  các thái ấp có thể  biến thành  nơi  quy tụ các người bất mãn. Không một daimyo nào  cứu trợ  con trai trẻ tuổi  của Hideyoshi, nhưng ronin -  nhóm samurai không chủ lại tập hợp ủng hộ  Hideyoshi trẻ , tăng đoàn quân trú phòng lâu đài Osaka lên đến  90 000 người . Hidetada,  vâng lệnh cha Ieyasu,  tiến đánh cứ điểm này , không phá nổi phòng thủ , nên mùa đông 1614 giảng hòa với các cố vấn cho Hideyoshi,  nhưng  mùa hè năm sau bội ước và tấn công lại.  Bị tràn ngập, Hideyoshi tự tử; mẹ là Yodogimi bị giết  chết dưới tay một kẻ giữ thành,  hầu tránh khỏi bị bắt.  Nay Ieyashu  thành lảnh tụ  nước Nhật , không còn ai thách thức nữa. Ông đã tái lập thể chế bakufu và năm 1603 ông đã  được hoàng đế phong làm shogun.

 
                                             
Phần II 
Thời kỳ Mạc Phủ, Shogun Tokugawa, 
thổi lại làn gió đổi thay ở Nhật   

 
          Một đêm khuya năm 1719 , Shogun thứ 8 Yoshimune thức dậy thảo luận sôi nổi cùng Nishikawa Joken, một thông ngôn cho các thương gia Hà Lan ở Nagasaki. Ông muốn Nishikawa giải thích  quả địa cầu  Nishikawa xây dựng  và muốn biết chi tiết  các kỳ diệu  trên trời một viễn vọng kính Hà Lan tiết lộ . Cũng như mọi nhà cai trị Tàu và Nhật có tinh thần trách nhiệm, Yoshimunde đang lao tâm vì        những lý do  tôn giáo  muốn lịch Nhật càng  chính xác càng tốt. Hầu gieo và gặt lúa  đúng ngày tháng và  hài hòa giữa Trời và Đất được duy trì. Công trình  Shogun hỏi đã được Cha Cơ Đốc Adam Schall biên soạn cho triều đình Tàu ở Bắc Kinh, một thế kỷ trước. Thành quả của những lưu tâm này là Yoshimune bải bổ việc cấm nhập khẩu  các sách vỡ ngoại quốc  với điều kiện các sách vỡ không dạy Thiên Chúa Giáo.  Phong trào thu nhập  kiến thức Tây Phương hay “ Hà Lan “ mệnh danh là rangaku (  ran là chữ viết giữa của từ Ho-ran-da  hay Hà Lan  và gaku có nghĩa là nghiên cứu hay một ngành học hỏi ), đã hiện diện lén lút  nay  mở rộng toang và tiến bộ lớn lao .
        Dân Nhật đã  học và cải tiến  từ dân Bồ Đào Nha  cách làm súng đạn, đại bác , bản đồ, nghề hàng hải, các vấn đề hải quân tổng quát và có lẽ quan trọng hơn hết  là sự hiện điện  và tính chất thế giới  Âu Châu.  Nhưng Tây phương đã tiến  mạnh mẽ hơn nhiều  giữa lúc dân Bồ Đào Nha đến Nhật cuối thế kỷ thứ 16  và thời đại shogun Yoshimune ( 1716- 45 ), đầu thế kỷ thứ 18. Giữa thời kỳ này là  thành công của Galileo , những thảo luận  rung trời lỡ đất của hội Hoàng Gia - Royal Society ( thành lập năm1662), và viện Hàn Lâm Khoa học ( thành lập năm 1666) , những thí nghiệm hóa học của Robert Boyle , và công trình  lý thuyết vững chắc của  Sir Isaac Newton.  Một khi cái nhìn  toàn cầu về vật lý học  đã thực hiện  thì áp dụng qua các ngành khoa học xã hội cũng được  chu toàn. Sau Thời đại Ánh Sáng - Enlightenment Age, Thế giới hoàn toàn đổi thay , không còn như trước hay trở lại nữa.
           Trước đó, các học giả Nhât học kỷ thuật Tây Phương bị cầm tù  hay bị giết chết .  Các lợi dụng ưu điểm tự do mới Yoshimune cho phép  rất thực tiễn.  Trước tiên họ không bị  lý thuyết hấp dẫn . Họ học qua ngôn ngữ Hà Lan  những đề tài thực tiễn như  thực vật học - botany ,  y khoa,  môn chế tạo pháo kích,   rèn luyện  quân lính kiểu Tây Phương và chiến thuật;  nhưng cũng gồm thêm  vài đề tài lý thuyết tỉ như toán học và thiên văn.  Năm 1771 , các bác sĩ tiền phong Nhật đã mỗ xẽ  một  phạm tội hình, chỉ chiếu theo sách vỡ . Một học giả khác  Aoki Konyo , giúp Yoshimune ước mong tăng gia cung cấp lương thực , đưa vào Nhật  Khoai lang - sweet potato và được mệnh danh là Tiến sĩ- Doctor Khoai Lang. Hiraga Gennai  ( 1728- 79 )  góp phần  du nhập , cải tiến  nhiều lảnh vực  từ thực vật học đến  quặng sắt , điện  và các  sơn dầu kiểu Tây Phương. Gần đến thế kỷ  thứ 18 các sách thiên văn học , y khoa , thực vật học và toán học được xem là tiêu chuẩn  ở Âu Châu,  thảy đều  được dịch ra và xuất bản ở Nhật . Năm 1811  một sở  dịch thuật chánh thức  được chánh phủ Nhật thiết lập, được biết sau đó  dưới tên là  Viện Kiểm tra Sách Dân Dã Man- Institute for the Investigation  of Barbarian  Books. Nhật phản ứng còn mau lẹ  và toàn diện về kiến thức Tây phương  đưa tới còn hơn  cả  Tàu, dù rằng Tàu  có một lợi điểm khó sánh ngang hàng, nhờ hiện diện các giáo sĩ Dòng Tên - Jesuits, đa số là các nhà khoa học hay chuyên viên kỷ thuật. Nhật đã đuổi các giáo sĩ Dòng Tên vì những lý do chánh trị, nhưng lại sử dụng mọi nguồn thông tin khác dù thiếu sót đi nữa .
       Tiếp theo Yoshimune, hiệu quả của bakufu suy đồi. Cả hai shogun thứ 9 và shogun thứ 10  đều không đủ sức đối phó  tình thế.  Thời Ienari, shogun thứ 10, Matsudari  Sadanobu, một  hội đồng huynh trưởng  có trách nhiệm đặt ra một chánh sách tục danh là  Cải Cách  Kansei Reforms . Sadanobu  cắt bớt  ngoại thương, làm ra các luật chặc chẽ hạn chế chi tiêu xa xĩ  vì quyền lợi quốc gia, cả đến việc  cấm dùng thợ cạo và thợ may mặc. Ông xếp đặt bỏ các nợ nần dân nghèo trong giới chiến sĩ và phục hồi nhấn mạnh nông nghiệp là  nền tảng quốc gia.  Thoạt tiên các biện pháp của ông  hủu hiệu, đem lại lòng tin cho chánh phủ. Tuy nhiên trong dài hạn , trên phương diện kinh tế , cải cách trở nên lố bịch- ngốc nghếch, vì căn bản dựa trên lý thuyết Khổng gíáo cỗ truyền, chứ không trên các thành quả  kinh nghiệm kinh tế .
        Tiếp theo Cải Cách Kansei là 10 năm đói kém nặng nề.  Sau đó  khó khăn tài chánh khiến chánh phủ phải tăng đánh thuế giới nông dân. Ba trận đói  nặng nhất vào các năm 1732, 1783 và  1832 , gây ra đau khổ dữ dội và lâu dài . Trận đói khởi đầu năm 1783, kéo dài 5 năm, theo nhiều báo cáo đã cho thấy nạn ăn thịt người và hàng ngàn ngươi chết đói ở miền Bắc. Những năm được mùa, nhiều nông trại chủ  đất và các nông trại nhỏ sung túc. Trái lại, nhân công ngành nông gặp nhiều khó khăn.  Bakufu  tuyên bố xem giới nông dân  như là nền tảng quốc gia, nhưng họ  đối đải nông dân  rất tàn nhẫn. Lý thuyết  là chỉ cho nông dân vừa đủ để sinh sống và đủ hột giống gieo mùa xuân năm tới và  lấy mọi sản  xuất còn lại dưới hình thức thuế khóa. Pháp lệnh dạy đời năm 1649, cấm nông dân hái lá cây làm nhiên liệu  hay dọn làm món ăn lúc đói kém; cấm nông dân uống trà hay sakê , cấm vợ nông dân đi du ngoạn hay đi bộ trên đồi, và phải ky dị nếu vợ  lơ là trách nhiệm trong nhà. Năm 1652,  một chủ làng  kêu nài  đòi giảm thuế  cho làng.  Giảm thuế được chấp thuận, nhưng  chủ làng bị xử tử, vì đã bạo gan  xin giảm thuế. Cho nên không lạ lùng gì thấy nông dân nổi loạn xảy ra thường xuyên, và đi cướp phá thành phố, thị trấn.  Ngoài ra còn có nhiều yếu tố hội tụ khác xói mòn tận chân  tinh thần đoàn kết dân tộc chế độ  Tokugawa xây đắp cẩn thận: sự hiện diện một số ronin - samurai vô chủ  thất nghiệp và tụ hợp ở thành phố, giới buôn bán bừng dậy, nhưng không được hệ thống phong kiến Nhật chấp thuận,  việc du nhập kiến thức và  kỷ thuật Tây Phương  có tính chất làm đổ vở  lề lối sinh hoạt Nhật truyền thống, nông dân nổi loạn  công khai. Đã phải đối đầu với nội tình nghiêm trọng, bakufu lại phải đối đầu thêm một đe dọa  từ bên ngoài  khi Thiếu Tướng (  Tá ? )   Hải Quân Hòa kỳ - Commodore  Matthew C. Perry đến Nhật.                               
         Sứ mệnh  Perry đôi khi được xem là lý do duy nhất  cho việc thay đổi thái độ Nhật từ ẩn náu qua  tham gia  thế giới cận đại; một giải thích thiển cận về thay đổi nội tình Nhật. Perry cũng không phải là kẻ gỏ cửa Nhật đầu tiên, tuy rằng ông  là kẻ đi vào  đầu tiên. Các nhà địa lý Nga  đã biết Nhật  từ  cuối thế kỷ thứ 17, và năm 1702 , Đại đế Peter the Great ( tiếng Pháp là Pierre le Grand )  đã phỏng vấn một thủy tủ  tàu Nhật chìm đắm . Dù Nhật cấm, nhiều giao thương bí mật đã xảy ra  ở thế kỷ thứ 18 giữa  dân Nhật và dân Nga  mà Nhật gọi là “ Dân Đỏ Đảo Bắc - Red Northern Islanders “ ( từ các đảo  Kurile ). Thành công của Thiếu Tá Perry  sử dụng  điều đình với sức mạnh , bắt buộc Nhật  phải mở cửa, được lịch sử Tây Phương  đề cao vì đó là  một vài cơ hội hiếm hoi thời bấy giờ  Hoa Kỳ thay vì  các lực lượng Âu Châu hành động thật năng nổ, hung hăng. Perry  mong muốn trao bức thư Tổng thống Fillmore  cho “ Hoàng đế “ mà Perry tưỏng là nhà cai trị thực sự , không biết đúng ra  phải là  shogun.  Sau khi trao bức thư,  khéo léo nễ mặt dân Đông Phương,  Perry nói là dành một năm cho  chức quyền Nhật xét đoán và sẽ trở lại với một lực lượng hùng hậu hơn. 

.  Chánh quyền Shogun tiến thoái lưỡng nan.  Lòng Ái quốc , niềm kiêu hảnh quốc gia  và chánh sách cô lập,  tất cả  nhắm về chối bỏ  mạnh mẽ các đòi hỏi của Hoa Kỳ. Nhưng các cố vấn  cho Shogun biết rỏ là Mỹ súng ống mạnh hơn . Vấn đề là Mỹ có sử dụng súng ống hay không, và mọi chỉ dẫn đều cho thấy Mỹ muốn  dùng vỏ lực ủng hộ đòi hỏi, như dân Anh đã làm ở Trung Quốc.  Ở tình trạng lưỡng nan này  Shogun lần đầu tiên thỉnh ý triều đình hoàng đế Nhật và tất cả mọi lảnh chúa địa phương- daimyo khắp nước . Abe Masashiro, cố vấn chánh cho shogun cảm nhận là thật cần thiết cho quyền lợi quốc gia, thỏa thuận càng nhiều càng tốt trong chính sách điều đình với các ngoại quốc hung hăng.  Đa số daimyo trả lời cho shogun  đều muốn chống cự , dù có vài daimyo  đã tiếp xúc với Tây phương muốn trì hoãn. Triều đình hoàng đế hoàn toàn chống đối mọi nhân nhượng. Abe quyết định  cần thiết phải điều đình , sau khi ước lượng lực luợng và ý  chí Mỹ - Hoa Kỳ .  Khi Perry trở lại Nhật năm 1854  như ông đã hứa, các chức quyền shogun  sử dụng chiến thuật trì hõan, nhưng cuối cùng  chịu nhượng mọi đòi hỏi chánh yếu  của Mỹ.  Hòa Ước Kanagawa mở hai hải cảng nhỏ là Shimoda hẻo lánh và  Hakodate  ở đảo Hokkaido xa xăm.  Thực thi hòa ước mới dài dòng và khó khăn. May là Mỹ đã  phái đến một sứ thần  mềm dẻo là  Townsend  Harris .  Harris  dùng biện cứ là  sẽ trả tiền  cho Nhật một khi có thỏa  thuận giao thương,  thay vì đưa cao  tham vọng đế quốc của Anh và các nước Âu Châu khác, như đã thấy ở Trung Quốc.  Tháng 7 năm 1858 , một thỏa ước thương mãi được ký kết  giữa Nhật và Hoa Kỳ, mở thêm nhiều hải cảng mới, các  khu vực ( tô giới ) đặc quyền ngoại giao - extraterritorially và cư trú ngoại quốc  ở Edo và Osaka, một thỏa hiệp quan thuế  và nhũng điều khoản Hoa Kỳ cung cấp cho Nhật  tàu, vỏ khí  và chuyên viên kỷ thuật. Những thỏa ước tương tự  sau đó ký kết với  5 nước Âu Châu: Nga, Anh, Pháp và Hà Lan.

          Hòa Ước Harris  gây ra nhiều tranh luận  lớn ở cả hai triều  đình shogun và hoàng đế . Khó khăn cho chánh quyền Shogun  càng tăng thêm, khi các  lực lượng ngoại quốc đòi bồi thường những vi phạm  hòa bình, uy quyền shogun suy thoái  không có sức ngăn ngừa.  Tấn công ngườì ngoại quốc  và dân Nhật thân ngoại quốc, không những do các samurai  cách ly  còn cả daimyo nữa.  Đặc biệt là hai thị tộc Choshu và Satsuma, đẩy mau  sự sụp đổ chế độ Tokugawa. Thị tộc Satsuma  có 27 000 chiến sĩ và thị tộc Choshu  11000. Choshu thành công thuyết phục Hoàng đế buộc Shogun  phải đuổi mọi “ Dân Dã man - Barbarian “  khỏi Nhật ngày 25 tháng 6 năm 1863. Quân  Choshu bắn đại bác  chống tàu Hoa Kỳ, Pháp và Hà Lan ở Eo Biển  Shimonoseki . Hoa Kỳ bắn trả vào các lũy đài  Chosul và  bắn  chìm hai tàu mới Choshu. Vài ngày sau, lực lượng Pháp  đổ bộ phá các pháo đài cùng các kho tồn trữ vũ khí . Choshu  liên tiếp khích lệ bài ngoại khiến  quốc tế hành động lần thứ hai. Năm 1864 b 17 tàu chiến  Anh , Pháp Hà Lan và Hoa Kỳ lại phá tan các pháo đài vừa  tái lập,  buộc Nhật phải  mở lại eo biển Shimonoseki cho giao thương quốc tế .  Hai samurai Choshu Inoue Kaoru ( 1835- -1915 và Ito Hirobumi ( 1841- 1909 )  du học bất hợp pháp  từ Luân Đôn trở về thuyết phục được các chức quyền Choshu là chánh sách bài ngoại là mộng tưởng.   Trong khi đó thị tộc Satsuma, ít lộ liễu bài ngoại hơn , lại lôi thôi với Anh , vì hiểu lầm văn hóa lúc bấy giờ cả ở Nhật lẫn Trung Quốc . Các vệ binh samurai Satsuma nổi giận  giết Charles Richardson dân Anh , vì  Richardson không xuống ngựa, kính chào lảnh chúa Satsuma diễu hành qua. Chánh phủ Anh đòi Shogun và Satsuma  bồi thường lớn và trừng trị can phạm. 7 tàu chiến hải quân Anh  bắn phá  nặng nề  Kagoshima, đánh chìm một số lớn Tàu Nhật trong hải cảng.   Phản ứng Nhật không phải là oán trách than phiền  mà là khâm phục không bờ bến lực lượng hải quân Anh.  Sau đó Satsuma mua  các tàu chiến Anh  và  nhiều tình nguyện đựợc Hảii Quân ( Hoàng gia ) Anh huấn luyện.  Khi Tân Hải Quân Nhật thành lập vào thời Minh Trị Thiên Hoàng,  đa số sĩ quan là các samurai do Anh huấn luyện ; còn đa số sĩ quan bộ binh do Pháp huấn luyện.     
          Năm 1866,  shogun thứ 13 chết và Keiki lên thay. Ngày 3 tháng giêng  1868 , Satsuma và Choshu  được hai  dinh trang bà con là Echizen và  Nagoya  cùng  hai dinh trang  xa xôi là  Tosa và Hiroshima, giúp sức chiếm dinh thự thành quách shogun. Tuy ít quân hơn, nhưng khí giới tốt hơn, họ đánh bại lực lượng của  Keiki  ở các thôn xóm  Fushimi và Toba , phía Nam Kyoto , ngày 17 tháng giêng 1868.

 
9-      Thời kỳ Minh Trị Meiji Thiên Hoàng Phục Hưng và Cận đại  Nhật bổn                                

 
Tháng 4 năm 1868,  các lảnh tụ samurai trẽ và  cường tráng  đưa cho một cậu bé 16 tuổ ( Nhật hoàng Meiji - Minh Trị Thiên Hòang ) ký một tài liệu gồm 5 điều không dài lắm: Lời thề Hiến Chương - Charter Oath phảng phất  “ Hiến Pháp “ thời hoàng tử  Shotoku đã kể trên .                                                         
         Điều 1: Dự trù thiết lập các hội đồng ( “ quốc hội “ )  rộng rải khắp nơi,  để lấy quyết  định cho mọi thảo luận công cọng.  Điều 1  tuồng như là một dấu hiệu thực thi dân chủ hoàn toàn , nhưng đó không phải là ý định của điều 1 mà là một cố gắng  tập hợp  ủng hộ chánh quyền mới. Cuối cùng khi chánh phủ đã vững tâm,  các phiên họp hội đồng đều bị bải bỏ.
         Điều 2 : Mọi giai cấp cao hay thấp phải  đoàn kết thi hành quản trị nước nhà . Đoàn kết  có nghĩa lý hơn bây giờ ở Nhật, vì cơ cấu  giai cấp phân chia chặc chẻ thời  Tokugawa . 
         Điều 3:  Dân gian , không kém  chức quyền dân sự hay quân sự , phải được phép đeo đuổi  sở nguyện, hầu tránh mọi bất bình.  Rỏ ràng hơn điều 2,  đây là một hứa hẹn các rào cản  làm thất bại chế độ phong kiến  sẽ không còn thi hành nữa , mọi sự nghiệp sẽ mở  toang đón chào tài năng.  Tòan thể quốc gia Nhật sẽ biến thành một vốn góp chung nhân lực  cho cố gắng phi thường cận đại nước Nhật.
          Điều 4: Mọi thể lệ xấu xa quá khứ  sẽ bị đập tan  và tất cả mọi việc  đều chỉ căn cứ trên các luật của Thiên Nhiên.   Số thể lệ  xấu xa các tác giả nhắm tới, gồm chế độ cùng mọi công trình shogun Tokugawa . Chỉ là “Luật của Thiên Nhiên “ là  một câu kêu gọi phổ cập  tính cách thần bí. Tây Phương đã quen thuộc ý niệm này . Đông phương cũng đã hiểu rỏ, vì đây là tư duy, suy nghĩ căn bản của Khổng Giáo và Lão Giáo .
          Điều 5 : Hiểu biết sẽ được tìm kiếm khắp thế giới, để cũng cố  nền tảng cai trị  của hoàng đế .
           Đúng là một phá vở quyết liệt với quá khứ. Cai trị  của hoàng đế là di sản quá khứ, và tương lai đề xướng hiểu biết … tìm kiếm khắp thế giới . Một khẩu hiệu nổi danh khác là “ Đạo đức Đông phương và  Khoa học Tây Phương “  lòng yêu nước xưa cũ và  ứng dụng khoa học cận đại sẽ là bí mật giúp Nhật trổi dậy thành cường quốc.
      Đặc điểm thứ hai của thời Minh Trị Thiên Hoàng là  mô hình Hiến Pháp . Cải cách này tỏ ra ứng tác, không  chuẩn bị tí nào cả. Vì đã thay đổi 4 lần từ tháng giêng  1868 đến tháng chín 1871. Cuối cùng Hội Đồng Quốc Gia - Council of State- dajokan  và 6 bộ được thiết lập. Hội đồng Quốc Gia, chủ tịch là  một nhà quí phái  tư tưởng cải cách của triều đình  Sanjo Sanetomi ( 1837- 91), chia ra làm 3 bộ phận: Tả Nghị Viện lo về làm luật, Hửu Nghị Viện lo giám sát các bộ và Trung Nghị Viện lo kiểm soát hoạt động hai nghị viện kia, cũng như hoạt động Cơ quan Thờ phụng Shinto, vừa thành lập . Cơ quan  này nhấn mạnh đến nguồn gốc thần thánh của hoàng đế Nhật. Cách cai trị này tiếp tục cho đến khi một nội các thành lập, năm 1885.
      Tập trung quyền hành tiến tới , bắt đầu bằng lựa chọn Edo làm  kinh đô mới, tên gọi mới là Tokyo hay “ Đông Kinh- Eastern Capital  “ . Hoàng đế vào ở lâu đài shogun, được sửa đổi lại cho thích hợp.  Trở ngại chánh cho  tập trung quyền hành  có tích cách tâm lý hơn là hành chánh, vì hiện diện riêng rẽ rất nhiếu dinh trang - cương thổ.  Dinh trang rộng lớn Tokugawa  trước tiên thuộc về chánh phủ chấp chưởng . Dinh trang này  được chia ra làm nhiều trấn - tỉnh ( prefectures ).  Quản trị các dinh trang khác lần lượt  được đưa vào hệ thống  dùng cai trị các trấn mới. Lệ phí và rào cản kinh tế giữa các dinh trang đều bị bải bỏ. Kido Koin của Choshu và Obuko  Toshimichi ( 1830- 78 )  của Satsuma thuyết phục  lảnh chúa daimyo địa phương mình, cũng như các  daimyo Tosa và Hizen, trả lại đất cho hoàng đế, tháng 3 năm  1869 . Đây chỉ là một thay đổi tượng trưng, vì  các daimyo được cử ngay làm  đốc trấn các lảnh thổ cũ của họ. Tháng tám 1871, Hoàng đế tuyên bố dưới danh  nghĩa chánh phủ, bải bỏ tất cả mọi dinh trang - cương thổ . Nước Nhật được chia ra làm 75 trấn - tỉnh ( 3  tỉnh đô thị ) ; con số này giảm xuống  sau đó chỉ còn 45. Đây là những đơn vị chánh quyền địa phương Nhật ngày nay .Tương đương con số tỉnh thành phố , Trung Ương quản trị ở Việt Nam  ngày nay
    Bồi thường cho các daimyo  cũ rất hào phóng . Đa số các đốc trấn  lương bằng 10 tiền thu thuế trong tỉnh. Tài chánh họ tốt đẹp hơn, vì họ không còn có trách nhiệm trả lương samurai, các phí tổn hành chánh khác, đặc biệt là các món nợ của dinh trang .  Samurai trái lại không được đối đải tử tế. Lương bị cắt bớt 50% .Tình trạng này gây ra bất mãn, khó khăn thật sự nhất là giới samurai cấp thấp. Năm 1876, tiền lương samurai được trả theo hình thức một công khố phiếu , nhưng tiền lãi  trên công phố phiếu chỉ  bằng phân nữa tiền lương đã gỉảm bớt rồi. Một lần nữa, các daimyo lại được  ưu đải theo các công phố phiếu họ nhận được.  Năm 1876 , các samurai bị bắt buộc chấm dứt, không được đeo một cặp kiếm ngắn và dài, trước đó được xem là  một ưu đãi xã hội, giới samurai gìn giữ rất cảnh giác.
          Lật đổ  chế độ shogun hoàn tất nhờ sự giúp đở  của các lực lượng dinh trang  và một nhân - nhóm nhỏ binh lính hoàng đế . Khi chánh sách Phục hồi vững chắc , các lảnh đạo mới khởi sự xây đắp lực lượng hoàng đế. Tiền phong là Omujra Masujiro thiết lập xưởng làm võ khí đạn dược và các học viện quân sự .Ông bị một samurai bảo thủ ám sát năm 1869, nhưng công trình ông  lại được Yamagata Aritomo ( 1838-  1922) tiếp tục. Aritomo  sau đó được cử tổng tư lệnh quân đội hoàng đế Nhật, một lực lượng gồm  có 9000 binh lính, tuyễn chọn từ các dinh trang cương thổ Satsuma, Choshu,Tosa và tổ chức theo kiểu quân đội Pháp . Năm 1873, ông làm thượng thư ( Bộ trưởng ) Bộ Binh  và rất có uy tín  nhiều năm trong chánh phủ.
      Các tàu chiến và binh thuyền  từ các dinh trang bờ biển là những đơn vị đầu tiên   tân hải quân Nhật, tổ chức theo lối Hải Quân Hoàng gia Anh - Royal Navy.   Hạm đội Satsuma cũ  trong nhiều năm cung cấp đa số  sĩ quan cao cấp  hải quân Nhật như đã kể trện
      Năm 1873 , Aritomo  đưa vào một luật cách mạng là cưỡng cách tòng quân toàn thể .  Việc này chấm dứt ưu đải quân sự  cho giới vỏ sĩ samurai, nhưng lại là bộ phận  khẩn thiết cho  quốc gia cận đại Nhật mong muốn trở thành. Đây cũng là biện pháp lợi hại  giúp chánh phủ kiểm soát thôn xóm xa xôi hẻo lánh  trong nước. Luật gây ra nhiều bất mãn trong giới nông dân, nhưng không có nhiều sự cố quan trọng xảy ra .
       Các nhà lảnh đạo Nhật  có ý định  cận đại hóa , không muốn Tây phương hóa.  Họ quyết định  lựa chọn mô hình  tốt đẹp nhất ở mỗi lãnh vực, làm cho Nhật cường thịnh, sánh ngang hàng các cường quốc khác.  Họ không có ý định  hy sinh hay thay đổi  căn bản “ Tinh thần Nhât xưa cũ - the spirit of Old Japan “  yamato damaashii , tâm hồn  quốc gia Nhật   hay cơ cấu căn bản xã hội mà  tượng trưng  biểu hiện qua hoàng đế Nhật . Thật ra thì chánh phủ shogun và các lảnh chúa địa phương  đã gửi nhiều cá nhân ra ngoại quốc, đem về Nhật thông tin và ý kiến  làm căn bản cho các cải cách, nhưng tiến trình này được  gia tốc  sau năm 1868.  Sứ bộ Iwakura rời Nhật  năm 1871 và ở lại Âu Châu và Hoa Kỳ 2 năm tròn. Phái đoàn gồm 48 thành viên và 54 sinh viên , ngoài lảnh đạo Iwakura còn có  các nhân vật lỗi lạc chánh phủ như OkuboKido, cùng các lảnh đạo Nhật tương lai như Ito. Phái đoàn thành công  thu thập nhiều thông tin hửu ích,  nhưng thất bại hoàn toàn ở mục đích thứ hai là cố thuyết phục các cường quốc Tây phương lúc đó  thay đổi các hiệp ước bất bình đẳng  ký kết thời Tokugawa . Rất nhiều Bộ, Cục ( Tổng Nha )  chánh phủ Nhật  sử dụng các chuyên viên mớì ngoại quốc. Cục Hầm Mỏ  chẳng hạn dùng đến 34 chuyên viên ngoại quốc. Bộ  Công Nghiệp dùng phần lớn ngân sách, năm 1879, thuê 130 cố vấn Tây Phương. Nhật cố gắng  thay thế  càng mau càng hay các chuyên viên ngoại quốc vì lương họ quá cao .
          Hầu so sánh với vài khía cạnh thời Minh trị Thiên Hoàng , tưởng cũng nên biết là Trung tâm văn hóa mới cho Việt Nam  không phải chỉ bắt đầu khi  vua Gia Long Nguyễn Phước Ánh ( trị vì 1802-19 ), thống nhất sơn hà ở lục địa từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau và trên biển tây là các đảo Thổ  Chu, Phú Quốc, ngoài Hà Tiên ở Biển Tây , trên biển đông từ các đảo Vịnh Bắc Bộ,  các đảo Hoàng Sa xuống đến đến các đảo Trường Sa Biển Đông -Thái bình Dương ), năm 1802 , lựa chọn Phú Xuân- Huế  làm kinh đô. Trường phái văn học Phú xuân  hình thành từ các tác giả thời các chúa Nguyễn lập nghiệp như Đào Duy Từ ( 1572-1634), Nguyễn hửu Dật ( 1604 ) , Nguyễn Khoa  Chiêm  ( 1659- 1736 ) , Nguyễn Cư Trinh ( 1716- 1767 ), Mạc Thiên tứ ( 1706- 1780 )…  Trước khi các chúa Nguyễn Phước ( Phúc theo tiếng Bắc )  trở thành các vua Nguyễn Phước, nền văn hóa Phú Xuân đã phát triễn khá mạnh , tuy trong một giai đoạn không dài, dưới triều đại Tây Sơn ( Trần Gia Phụng - Dòng Việt số 11 , năm 2002 ). Ảnh hưởng  Chiêm Thành rỏ rệt trong tôn giáo và âm nhạc. Người Việt bắt đầu thờ cúng  những vị thần Chiêm Thành  như nữ thần Thiên Y A Na ở  điện Hòn Chén ( Ngọc Trản ) tại Huế ,ở Tháp Bà ( Po Nagar ) tại Nha Trang. Và cũng làm quen với Hồi Giáo là một trong hai tôn giáo chánh  Chiêm Thành. Ca Huế rất nổi tiếng gồm 2 loại : điệu hát Bắc  do ảnh hưởng  các từ khúc Trung Hoa ( các điệu cỗ bản , kim tiền , tứ đại cảnh, lưu thủy , hành vân ); điệu hát Nam  do ảnh hưởng  ca khúc Chiêm  ( nam ai , nam xuân , nam bình ). Nhạc cung đình đi đôi với múa cung đình có tính cách tập thể  gồm các điệu múa Bát dật hoa đăng, tam tinh chúc thọ, bát tiên hiển thọ, trình tường tập khánh, đấu chiến thắng Phật, tứ linh, nữ tướng xuất quân, múa quạt, tam quốc tây du, lục triệt hoa mã đăng. Hát bội là nghệ thuật tuồng rất thịnh hành trong cung đình nhà Nguyễn , nhất là khi Đào Tấn ( 1845- 1907 )  được bổ nhiệm  làm hiệu thư nội các viện ở Huế năm1867 .
     Văn hóa Âu Tây, nước ngoài, theo khách thương hồ ngoại quốc, ảnh hưởng rỏ rệt đến   nền khoa học kỷ Thuật  và sự du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam . Phủ Biên Tạp Lục của  Lê Quý Đôn (  1726- 1784 ) đề cao nhân vật Nguyễn Văn Tú , quê ở Thuận  Châu, qua nước Hà Lan học hai năm  nghề đồng hồ và  chế tạo kính thiên lý ( viễn vọng kính ). Nguyễn văn Thi em ông, Nguyễn văn Duy con ông , Lương văn Dũng rể ông,  đều giỏi kỷ thuật máy móc.  Bấy giờ, kỷ thuật khá phát triễn là  luyện kim và đúc đồng, tập trung ở Phường Đúc, phía hửu ngạn sông Hương. Nghệ nhân Phường Đúc  vào thời các vua nhà Nguyễn  đã sản xuất chuông chùa, chuông nhà thờ, dụng cụ bằng đồng, những súng thần công, đỉnh đồng nổi tiếng nhất là Cửu Đỉnh  trong Đại Nội, còn lưu truyền ở Huế .
    Như chúng ta đã biết Ngày 1-9- 1858,  hạm đội Pháp - Tây Ban Nha  nổ súng tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà - Đà Nẳng . Ngày 17-2 1859 Pháp đánh chiếm tỉnh,  thành Gia Định . Ngày 5-6 1862 , Triều đình vua Tự Đức miễn cưởng  ký Hiệp Ước cắt ba tỉnh  là Gia Định , Định Tường , Biên Hòa cho Pháp . Ngày  20-6 1867 Pháp đơn phương tuyên bố 6 tỉnh Nam Kỳ  là lảnh địa của Pháp.  Ngày 20-4- 1873, Pháp  đánh Hà Nội lần thứ nhất.  Năm 1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai , rồi tung quân đánh chiếm các tỉnh Bắc Kỳ. Một cánh quân   Pháp do y sĩ  Jules   Harmand  cùng đô đốc Courbet  vào đánh Huế tháng 8 năm 1883 . Kinh thành thất thủ.  Triều đình Huế thất thế  phải ký  hòa ước ngày 25-8 1883 gọi là hòa ước  Quý Mùi hay  hòa ước Harmand , gồm 27  khoản  theo đó Việt Nam chịu nhận để Pháp bảo hộ, việc ngoại giao do Pháp phụ trách, từ tỉnh Bình Thuận trở vào thuộc Nam Kỳ, tỉnh Hà Tỉnh trở ra  thuộc Bắc kỳ,  triều đình Huế  trực tiếp cai trị từ Quảng Bình vào tới Khánh Hòa. Hòa ước Giáp Thân  hay Patenôtre , sửa đổi đôi chút Hòa ước Harmand  ký kết tại Huế  ngày 6-6 -1884 gồm 19 khoản, lập qui chế chung là Việt Nam  chịu nhận sự Bảo hộ của Pháp, và Pháp  thay Việt Nam lo việc ngoại giao ( thật sự Pháp đã ký hiệp ước  Fournier ngày 12-5 -1884 với Trung Quóc  để Trung Quốc thừa nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam ), lấy Nam Kỳ thành thuộc địa, chia Việt Nam còn lại  thành  Trung Kỳ  từ Bình Thuận ra đến Thanh Hóa, Pháp gọi là Annam, bảo hộ gián  tiếp  và  từ Ninh Bình trở ra là Bắc Kỳ,  Pháp gọi là Tonkin bảo hộ trực tiếp, nghĩa là  bên cạnh các quan cai trị Việt Nam , Pháp đặt thêm  các chánh phó công  sứ ở mỗi tỉnh. Các chánh phó sứ lúc đầu  thuộc quyền Tổng Trú Sứ Pháp ( résident general hay supérieur), không dự vào việc cai trị,  nhưng có quyền  đề nghị cách  chức quan lại Việt Nam và triều đình Huế phải thi hành. Ngày 17-10- 1887,  tổng thống Pháp  Jules Grevy  ký nghị định thành lập  Liên Bang Đông Dương lúc đầu  gồm Cao Miên-Cam Bốt, Nam Kỳ,Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Về sau thêm ngày 5-1- 1900, thêm Quảng  Châu Loan - Kwang Tcheou Wan  tô giới Pháp ở Trung Quốc và năm 1907  thêm Lào - Laos , sau khi Pháp  ký với Thái Lan  hiệp ước ngày 23-3 - 1907  xác định biên giới phía Tây Lào. Tuy chức quyền Pháp tại Việt Nam, cai trị dựa trên căn bản hòa ước 1884, nhưng trên thực tế người Pháp kiếm đủ mọi cách cũng cố dần dần hệ thống cai trị Pháp, tước bỏ quyền hạn của vua Việt Nam, lấn quyền Triều đình Huế và biến Trung Kỳ-Annam thành một xứ bán thuộc địa.
       Đầu thế kỷ thứ 19, triều nhà Nguyễn,  một vài điểm như đã kể trên, có một số cố gắng thống nhất  quốc gia, mở rộng đất nước về phía Tây,  đẩy mạnh khai hoang , phát triễn nông nghiệp  và văn hóa chính thống. Chưa kịp  cải cách chế độ quân chủ canh tân  đất nước, sửa đổi hệ thống tư tưởng  Nho Giáo quá lỗi thời so với xu thế thời đại trên hoàn vũ, như vào thời Minh Trị Thiên Hoàng, thì đã  xảy ra cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược, từ năm 1858. Các cuộc khởi nghĩa  trong Nam của Nguyễn Trung Trực ( 1861), Thiên Hộ Dương ( 1864-65 ), Thủ Khoa Huân ( 1868 ) … cũng như Biến cố kinh thành Huế dêm 4 rạng ngày 5-7-1885 của Tôn Thất Thuyết và Trần Văn Soạn, tấn công  quân Pháp ở đồn Mang Cá, vua Hàm Nghi rời kinh thành Huế  ra Tân sở - Quảng Trị, hạ  “ Chiếu Cần Vương “  phát động phong trào chống Pháp sôi nổi  khắp Bắc và Nam, do Triều Nguyễn  lãnh đạo đã thất bại bi thảm.  Ngoài mất quyền ngoại giao, cai trị, giáo dục,  phát triễn đất nước không còn tự chủ như ở Nhật  với các samurai , trí thức trẻ tuổi và cấp tiến hai thị tộc thắng chế độ Shogun là Choshu và Satsuma  đã nêu trên, tệ nhất là mất quyền tổ  chức quân đội Việt Nam và tân trang võ khí, nay hoàn toàn dưới quyền điều khiển  của Pháp. Triều đình  chỉ còn lính Khố Xanh không có võ khí mới, ít binh , cấp chỉ huy cao nhất là lảnh binh , Pháp liệt vào hàng thượng sĩ - adjudant. Pháp bải bỏ cấp Chưởng Dinh ( trung tướng hay đại tướng thời Nguyễn ), Chưởng Cơ ( thiếu tướng lữ doàn ),  hạ cấp Cai Đội ( Thiếu tá tiểu đoàn ) xuống hàng hạ sĩ  cai - caporal , trung sĩ đội - sergent , cấp vị quân đội thuộc địa. Khi thành lập đoàn quân Tiền Phong , bộ trưởng Phan Anh và Thứ Trưởng Tạ Quang Bửu nội các Trần Trọng Kim, chỉ tìm ra được một  chỉ huy  cao cấp nhất hàng Thiếu Úy ( ? ) , mà lại do Nhật đào tạo cấp thời .
       Ở Nhật , thời Minh Trị Thiên Hoàng, Nhật toàn quyền hành động ngoại giao Những phái đoàn Ngoại giao như  Iwakura ,đã được phái đi  Hoa Kỳ và Âu Châu  , trờ về  Nhật  kịp thời để ngăn chặn Saigo Takamori  đề nghị chinh phạt Triều Tiên, năm  1873.  Một  đoàn chinh phạt nhỏ hơn đã được gửi đến Đài Loan  - Taiwan, trừng trị  việc  Trung Quốc  giết vài thủy thủ bị đắm Tàu,  từ các đảo Ryukyu đến Đài Loan. Trung Quốc chịu  bồi thường Sau đó một lực lượng hải quân cũng được gửi đi đánh Cao Ly . Hòa ước Kangwa - Quảng Hòa ( ? )  năm 1876 ,  mở thêm hai hải  cảng mới,  ngoài  hải cảng Pusan, để giao thương với Nhật. Cao ly - Triều Tiên  được tuyên bố độc lập, dù không có một cố gắng nào  bảo đảm thỏa hiệp với Trung Quốc , nước  làm chủ,  bảo hộ Cao Ly . Đối với giới samurai bất mãn,  chinh phục bằng hòa ước không đủ thay thế hiển hách , vinh quang chiến tranh. Saigo  lập ra một dây chuyền trường học ở miền Nam nước Nhật, huấn luyện quân sự  và nuôi nấng  các lý tưởng bảo thủ của giới võ sĩ samurai.  Khi chánh phủ Nhật đề phòng, di chuyễn   các kho tồn trữ vũ khí  khỏi thủ phủ tỉnh Kagoshima, các người ủng hộ Saigo  chiếm các kho  chánh phủ, tôn Saigo làm thủ lảnh  và khởi sự tiến đánh Edo , với  40 000 binh lính.  Nhưng bị quân chánh phủ chận đứng ở  Kuramoto. Quân động viên, có sự ủng hộ của Hải quân  cũng phải mất 6 tháng chiến đấu vất vã mới đuổi lui  quân Saigo về lại Kagoshima.Nơi đây , Saigo và các người ủng hộ chánh bị giết chết,  sau một cuộc kháng cự tuyệt vọng. Saigo Takamori biến thành huyền thoại , nhưng không  còn nổi loạn phong kiến ở Nhật nữa. Từ rày, chánh quyền Meiji  làm chủ Nhật , không còn ai đối thủ nữa. Các  tay nổi loạn như Saigo không có cái nhìn viễn kiến, thấy xa hay  chủ nghĩa chánh trị hiện thực của những nhà lảnh đạo chánh phủ Meiji .  Các nguyên tắc  chủ yếu  được  tóm gọn trong khẩu hiệu  đương thời là  fukoku - kyohei “  quốc giàu, quân mạnh - rich country, strong army “ . Các nhà lảnh đạo này nắm vững  sự kiện là  cận đại hóa  phải là  một tiến trình toàn diện và bất khả phân, và  vài ý kiến  hiến pháp,  pháp luật, tiến bộ kinh tế  và các phương cách Tây Phương  cần được hội nhập ở hệ thống mới , dù rằng họ  có ý định  giữ lại “ Tinh thần Nhật- The Japanese Spirit “ . Trên hết, họ nhận thức,  khác hẳn các nhà cải cách nữa chừng Trung Quốc, là một bộ náy chiến tranh,  đòi hỏi  không những  các kho võ khí , các xưởng làm tàu chiến  mà cả toàn thể một bộ máy  công ( kỷ ) nghệ  cận đại, có lưới chắn bên dưới.  Khẩu hiệu của họ  dẫn ngay tới  quan niệm đượcc biết ngày nay là Phức tạp  Quân sự - Kỷ nghệ ( military - industrial complex ) , dù cho họ không đương nhiên  chấp thuận những  hành xử  mà các   kẻ nối tiếp họ theo chủ nghĩa sô vanh - quốc gia cực đoan , dùng những dụng cụ quân sự- kỷ nghệ  mà họ  đã rèn đúc  khéo léo .
         Chánh phủ Minh Trị thiên hoàng cung cấp nhưng điều kiện chánh trị chắc chắn và một khung cảnh  tài chánh đáng tin cậy  cho xứ sở. Họ cũng  đỡ đầu và ủng hộ  vài công nghệ  phát triễn sớm , đặc biệt  những công nghệ cần thiết cho yêu cầu một bộ binh và hải quân cận đại. Tuy nhiên khu vực tư  lại có trách nhiệm phát triễn những công nghệ chánh ở Nhật bổn.
          Một lò tân tiến nung chảy sắt  được xây dựng ở cương thổ  Hizen  năm 1850  từ những chỉ dẫn chứa trong một sách vở từ Hà Lan đem tới. Sau đó, sắt của lò này  được dùng để đúc đại bác hửu hiệu hơn là những kiểu đồng thau cũ. Tokugawa Nariski , lảnh chúa Mito, cho chạy  một xưởng  đúc sắt nhỏ và đóng tàu ở khu vực ông cai quản năm 1858. Tân chánh phủ thiết lập trên các nền tảng này  những kho xưởng vũ khí lớn  tại Tokyo và Osaka, lập thêm một xưởng đóng tàu  mới ở Hyogo( Kobe )  ngoài hai  xưởng thành lập sớm ở Nagasaki  và Yosuka.  Ngay trước khi  tân chánh phủ bắt đầu hoạt động, Nhật đã có  từ năm 1868, 138  tàu cận đại, vài tàu mua ngoại quốc và một số  hoàn thành ở Nhật. Những đường sắt-xe lữa ban đầu cho thấy số đường rầy xây  đặt  rất chậm chạp, vì đất đai núi non và phi tổn làm đường hầm và cầu quá đắt, nhưng những đường rầy  mới đặt xong thì đã chuyễn vận lớn. Đường xe lữa  ngắn ngủi Tokyo-Yokohama  xây xong năm 1872, đã chở 2 triệu hành khách hai năm sau, ngoài một số lượng hàng hóa to lớn. Kobe được nối liền với Osaka năm 1874 và với  Kyoto 3 năm sau.  Vài đọan đường sắt  ngắn  hoàn tất năm 1877 trong dự án  đường xe lữa Tokyo - Kobe.  Sau năm này, các công tư tư nhân khởi sự  đi vào  lĩnh vực xe lữa, từ trước vẫn do chánh phủ tài trợ. Xây đặt tư nhân  mau lẹ vượt xa chánh phủ  theo bảng đối chiếu sau đây:
 Năm          đường rầy tư nhân        đường rầy chánh phủ              Tổng cọng
 1881                    0                              76 dặm Anh ( 1223 km)          76
 1885                  130 dặm Anh           220                                           350
 1895                  1500                         580                                          2 080
Sau 1906, hệ thống xe lữa bị quốc hửu hóa vì lý do chiến lược, vào thời kỳ  khẩn cấp quốc gia.
    Một mỏ than đá được khai thác năm  1869 cũng ở cương thổ Hizen, thoạt tiên hoạt động nhờ Anh Quốc giúp đở, nhưng Chánh phủ Nhật chiếm lấy năm1874 và tiếp theo chánh phủ khai thác 8 mỏ khác. Điều này  cùng  vài phát triễn đáng kể về tơ sợi  xúc tiến  dưới sự điều khiển của Ito, bộ trưởng  bộ Công Nghệ vừa thành lập,  từ năm 1870 đến năm 1878.  Công nghệ tơ sợi là một mô hình minh bạch nhất về cộng tác giữa  chánh phủ và khu vực tư.  Chế tạo đồ len - wool , nhu cầu  cho đồng phục trong quân đội  và nhân viên chánh phủ  hoàn toàn thuộc quyền chánh phủ. Mặt khác, tơ lụa đòi hỏi nhiều thủ công, sáng chế chánh là  máy quay - cuộn tơ. Có đủ tư bản tư để tài trợ bành trướng vì đòi hỏi quốc tế tăng mau  và chánh phủ ít tham gia   ngành công nghệ này.  Năm 1880, tơ lụa-silk chiếm 43% tổng số xuất cảng Nhật. Trong ngành công nghệ bông vải, một trong những công nghệ tăng trưởng mau nhất bấy giờ, cả hai chánh phủ và tư nhân đều xen vào. Tư bản tư nhân bị hút dẫn vì các xưỏng dệt có thể lớn hay nhỏ và kỷ thuật tương đối đơn giản. Cương thổ  Satsuma mở một xưởng dệt bông vải năm1868 và 3 xưởng của chánh phủ năm 1880, cũng như nhiều xưởng tư nhân.  Máy móc ngành dệt bông vải  mua ở ngoại quốc  năm 1878, nhờ chánh phủ cho vay 10 triệu  yen , rồi bán lại dễ dãi cho công ty  tư nhân. Năm 1877, Nhật chỉ có 8000  ( con ) suốt- spindles, năm 1893 lên đến 383 000 suốt ( tưởng cũng nên nhắc lại là vào đầu thập niên 1960, miền Nam  có 60 000 suốt và xin thêm Viện trợ Mỹ 30 000 suốt nữa, nhưng Mỹ từ chối).
        Phát triễn công nghệ Nhật do Chánh phủ đở đầu và tài trợ  tỏ ra rất tốn kém.  Chỉ thực hiện nổi  bằng một quyết định cân nhắc  suy tính kỷ luỡng, nghiêng về công nghệ  thiệt hại  cho nông nghiệp.  Năm 1880, khoảng 75%  dân Nhật là nông dân  ( cũng là tỉ số nông dân  Việt Nam thống nhất, từ 1975 đến  1995 )  và khoảng 80 %  lợi tức thuế khóa  thu từ nông nghiệp.  Thuế này giúp cho Chánh phủ  trả tiền nhập cảng máy móc công nghệ  và trả tiền mướn các chuyên viên ngoại quốc.  Có thể điều đình vay tiền ngoại quốc, nhưng tiền vay rất đắt đỏ và liên hệ không chấp nhận được đến  phụ thuộc  các chánh phủ ngoại quốc ; chưa có ai bày ra Ngoại viện  và Nhật bắt buộc phải tự xoay sở lấy. Thập niên 1870 là một chục năm chi tiêu lớn chưa bao giờ có ở Nhật. Ngoài việc phải trả lương cho samurai, daimyo và tài trợ công nghệ hóa, còn phải chi tiêu  phát triễn đảo Hokkaido ở miền Bắc. Chi tiêu này gồm luôn cả trợ cấp cho  vô số kể nông dân di cư đến đảo, góp phần đẩy lui  hửu hiệu dân Nga  xâm nhập  Hokkaido từ miền Bắc. Cuối thập niên này là một thời kỳ Nhật lạm phát nặng nề. Thay vì  vay mượn  ngọai quốc,  theo lời khuyên của bộ trưởng tài chánh giỏi dang  Matsukata Masayoshi ( 1835-  1924 ),  chánh phủ quyết định  chánh sách hạn chế chi tiêu - retrenchment và tiết kiệm. Vì vậy, có thể xem đến năm 1886,  mọi việc quốc gia trở lại bình thường.
       Một trong những biện pháp Matsukata đưa vào là bán cho tư nhân các xưởng và xí nghiệp  nguyên do tài trợ của chánh phủ.  Vài xí nghiệp khó  có người mua và giá bán bất lợi  cho chánh phủ, vì chỉ bằng  11 đến 90%  đầu tư nguyên thủy. Tuy nhiên chánh phủ có tiền mặt trong tay - ready cash và lỗ lã  được cân bằng nhờ ưu điểm các công nghệ mới  thiết lập  cho quốc gia. Lẽ dĩ nhiên là  có một phần nào tham nhũng chánh trị liên kết với những  xếp đặt mua bán, các xưởng bán giá thấp  cho bạn hửu ở các bộ liên hệ . Có một trường hợp tài sản chánh phủ ở Hokkaido  bán thấp một cách phi lý, gây ra xi căng đan, khiến  phải chận đứng việc mua bán này.
        Vài công ty  có lợi nhất trong việc mua tài sản chánh phủ  là các đại xí nghiệp , trổi dậy thành cái mà Tây Phương gọi là công ty  zaibatsu ( nhóm tài phiệt - financial clique ) và sau này ở Hàn Quốc- Nam Hàn mệnh danh là chaebol .  Đã kể ra rồi là tổ hợp Mitsui, khởi nguyên thời kỳ Tokugawa  là xưởng nấu rượu sa kê  và tỏa ra bán các hàng khô và làm ngân hàng. Giữa thế kỷ thứ 19  Minomura Rizaemon, một nhà quản lý  lỗi lạc,  thuyết phục hảng  chấp nhận các phương pháp ngân hàng mới  và đa dạng hóa  hoạt động.  Liên hệ qua tình bằng hửu với Inoue,  giúp ông giao  tiếp đẹp đẻ với chánh quyền, mua xưởng máy xe tơ Tomioka  của chánh phủ  và bắt đầu làm kỷ nghệ nặng, sau đó  thiết lập thành đơn vị riêng rẽ xí nghiệp thương xá - department store  lớn Mitsukoshi. Hảng zaibatsu  thứ hai là Mitsubishi, chủ nhân nguyên là một samurai Tosa, Iwasaki Yataro, nhờ  tài nguyên  dinh trang -cương thổ Tosa  và trợ cấp chánh phủ, thiết lập riêng cho ông một  đường tàu thủy - shipping line. Sau đó trở thành  hảng đường biển nổi tiếng N.Y.K. Nippon Yusen Kaisha , hảng Đường Giao Thơ Nhật- Japanese Mail Line .  Hảng lớn thứ ba lớn do  Shibusawa Eiichi ( 1840- 1931), một nông dân  giàu sang đầy tham vọng, trở  nên kiệt xuất nhờ  sự che chở của Keiki, shogun cuối cùng,  thiết lập  mở ngân hàng, buôn bán  và trở thành chủ tịch Đệ Nhất Ngân Hàng Quốc gia - First National Bank. Ông thiết lập  Xưởng  Quay  Sợi - Spinning Mill Osaka, thành công nổi tiếng vào thập niên 1880, nhờ kích thước to lớn,  kỷ thuật cập nhật và quản lý hửu hiệu.  Ngoài những hoạt động này, Shibusawa còn đóng vai trò quan trọng ở  vài trăm  công ty khác.  Hai công ty chánh zaibatsu khác là Yasuda  ở ngành ngân hàng, đường xe lữa và Asano,  hảng đã mua nhà máy xi măng của chánh phủ, biến một công ty lỗ lã thành một công ty có lời .
     Ở thời kỳ này, những sự cố chánh trị chuyễn hướng Nhật về thành lập một Hiến Pháp. Phong trào chuyễn hướng chánh phủ thành đại diện dân chúng  ở Nhật chậm rì và sơ bộ.  Chính ở một thời điểm nào đó, Tổng Thống Hoa Kỳ  Ulysses S. Grant khuyên hoàng đế Nhật nên thực hiện chậm rải.  Chánh phủ Nhật từ thời kỳ Minh Trị Phục Hưng  năm 1868  đến khi ban hành Hiến Pháp Minh Trị - Meiji Constitution  năm 1980, nằm trong tay vài người, một nhóm  sáng ngời và cấp tiến  nhưng vẫn là một nhóm đầu sỏ chánh trị - oligarchy.  Khi Saigo Takamori  rời bỏ chánh phủ  trong khủng hỏang Cao Ly năm 1873, Itagaki Taisuke ( 1837-  1919 ) cũng từ chức theo Saigo, nhưng Saigo nổi loạn quân sự, còn Itagaki lại  nghiêng về hành động chánh trị tiến dần từng bước. Với sự ủng hộ thị tộc Tosa của ông,  một câu lạc bộ chánh trị, tên là  Hội những Người Yêu nước- Society of Patriots, từ một tổ chức địa phương , rồi  đạt kích thước quốc gia  và trở thành một lò  huấn luyện có giá trị cho phong trào một đảng chánh trị quốc gia.  Chánh quyền đương thời có khuynh hướng theo truyền thống,  xem mọi hội họp  nhân sự  đề xướng thay đổi là phá hoại; trong khi ai sốt sắng  thay đổi lại muốn tiến hành ngay tức khắc đến cực đoan, không hề biết ý niệm thế nào là “  đối lập ngay thẳng, trung thành- loyal opposition “ Tranh chấp giữa chánh phủ bảo thủ và đối lập  bùng nổ năm 1881. Okuma Shigenobu ( 1838- 1922 ) lảnh tụ phong trào quốc hội ngay trong chánh phủ , đề nghị bầu cử năm 1822 và lập một nội các trách nhiệm trước quốc hội theo kiểu Anh, làm các đầu sỏ chánh trị- oligarchy  hoảng vía, buộc Okuma phải từ chức . Một nhượng bộ  cho  đảng quốc hội - parliamentary party được thu xếp để  hoàng đế tuyên bố một hiến pháp, thiết lập một quốc hội  vào năm 1890 . Thế là các đảng phái chánh thức thành hình : Jiyuto hay Đảng  Tự Do - Liberal Party, đôi chút đặc điểm chủ nghĩa cấp tiến- radicalism Pháp,  lảnh tụ là Itagaki  cùng Goto Shojiro và Rikken Kaishinto hay Đảng Hiến Pháp Tiến Hành - Constitutional Party, lảnh tụ là Okuma, gần các tư tưởng Anh hơn.
    .       Khi Ito, trưởng phái đoàn nghiên cứu , so sánh các hệ thống tổ chức chánh phủ Âu Châu trở về Nhật,  ông  giám sát mạnh mẽ  nhiều bước tiến tới nền dân  chủ kiểm soát, ông đã dự tính cẩn thận.  Năm  1884,  một  bậc công hầu mới- new peerage , dự liệu cho Thượng Viện - Upper House được thành lập  có 5 cấp : công, hầu, bá, tử, nam. 500 người  được cử vào các cấp quí phái danh dự này, ; trong đó 470 người thuộc giới quí phái triều đình cũ. Số  30 còn lại chia cho các nhóm chánh phủ; các lảnh tụ các đảng phái mới bị cố tình gạt bỏ ra ngòai. Rồi sau đó, thể chế công  chức- civil service cũng được cải tổ, thiết lập kỳ thi tuyễn  và phải đậu qua mọi thủ tục, hầu ngăn ngừa thói gia đình trị- nepotism. Một nội các mới được thành lập  thay thế cơ quan chánh phủ tối cao Dajo-Kan, dưới quyền hoàng đế. Như vậy thêm quyền cho thủ tướng nội các là Ito, vì nội các  chịu trách nhiệm  với hoàng đế, chứ không phải với các dân biểu - đại diện dân bầu lên.  Cuối cùng,  năm 1888,  một Cơ Mật Viện ( Ngự Tiền Văn Phòng, Pháp lập thời vua Bảo Đại mới lên ngôi để  kiềm chế, kiểm soát vua ? )- Privy Council ( ? )  được tạo ra để cố vấn cho hoàng đế.  Cơ Mật Viện uy quyền trên tất cả, nên  Ito từ chức thủ tướng để giữ  chức chủ tịch hội đồng Cơ Mật Viện .
             Hiến Pháp Meiji ban hành tháng 2 năm 1889, là hệ thống chánh phủ  đại diện dân chúng đầu tiên Á Châu. Hiến Pháp được xem là quá rộng rải, dù có rất nhiều  bảo vệ. Ito đã khôn khéo tránh khỏi các  chỉ trích của phe bảo thủ  bằng cách xếp đặt,  xem đó là một quà tặng  của hoàng đế cho dân Nhật.  Chủ quyền quốc gia xác định trên cá nhân hoàng đế, được tuyên cáo là “ thiêng liêng  và bất khả xâm phạm - sacred  and inviolable “. Hoàng đế có quyền triệu tập hay giải tán Lưỡng Viện - Diet và ban hành các luật khẩn cấp, khi hai viện không họp, nhưng sau đó phải trình quốc hội.  Hoàng đế là  tổng chỉ huy tối cao bộ binh ( quân đội ) và hải quân  và các bộ trưởng có trách nhiệm cá nhân với hoàng đế, không qua toàn thể nội các.  Hiến Pháp thiết lập  Thượng Viện - House of Peers  chỉ định  và Hạ Viện - House of Representatives , dân bầu.  Hai viện tình trạng ngang hàng nhau, có nghĩa là Thượng Viện cũng có quyền phủ quyết - veto  , thêm vào quyền hạn phủ quyết của hoàng đế. Cơ chế  chánh phủ đại diện dân có phần nứt rạn dưới thời Minh Trị thiên hoàng, nhưng cũng hoạt động được , và dần dần  các đảng phái chánh trị bắt đầu hoạt động bình thường hơn, bằng cách  chống đối nhau hơn là  phối hợp làm què quặt chánh phủ.  Hai thị tộc Choshu ( Ito và  Yamagata )  và Satsuma ( Kuroda Kiyotaka  và Matsukata Masayoshi ) thay đổi  nhau nắm giữ chức thủ tướng.
             Hiện tượng hổn độn và tiền tiến  kinh tế lẫn chánh trị thời kỳ Minh Trị thiên hoàng,  lẽ dĩ nhiên tạo ra  những áp lực, những yêu cầu mới.  Tăng trưởng phối hợp  với niềm kiêu hảnh và tham vọng quốc gia, thúc đẩy mạnh  Nhật muốn kiểm soát và  thu nhập nhiều lảnh thổ mới ngoài nước . Đó là thừa tố nổi bật nhất của lịch sử Nhật,  từ thập niên 1890 đến khi chấm dứt Thế Chiến Thứ Hai.  Khởi đầu bằng Cao Ly - Triều Tiên,  mục tiêu truyền thống Nhật xâm lăng .Năm 1894, vua Cao Ly , liên quan đến  một vụ xung đột bè phái triều đình, kêu gọi Trung Quốc nước bá chủ  Cao ly và Trung Quốc gửi đến  Cao Ly một phân đội quân lính nhỏ.  Nhât  gửi môt đoàn quân lớn hơn  và yêu cầu  Cao Ly cải cách, nhân danh  đảng tiến bộ Nhật ủng hộ.  Trung Quốc từ chối thỏa hiệp  và  hai bên tuyên chiến , tháng 8 năm đó.  Nhật thắng  trên đất liền.  Quân đội Nhật  tiến vào Mãn Châu - Manchuria.  Hành động quyết định xảy ra trên biển,  ở cửa sông Yalu. Nhật cũng thắng trận và phá  hủy hạm đội Tàu  ở  Weihaiwei ( Vệ Hải Vệ  ? ) tỉnh Sơn Đông  và chiếm hải cảng Port Arthur - LữThuận ( ? )  ở bán đảo Liêu đông- Liaotung . Hòa ước Shimonoseki  tháng tư năm 1895  đem lại  cho Nhật nhiều chiến lợi phẩm:  các đảo  Đài Loan - Formosa ( Taiwan ) và Pescadores , công nhận Cao Ly độc lập , bồi thường  30 triệu bảng Anh ( pound )   và một hiệp ước thương mãi .  Trong cuộc đàm phán, Nhật muốn chiếm luôn cả  bán đảo Liêu Đông ở miền Nam Mãn Châu, nhưng  ba nước Nga, Pháp và Đức  cùng nhau bó buộc Nhật  bỏ đòi hỏi này. Gây một sĩ nhục và hiềm khích lớn ở Nhật, nhất là vì Nga đã bắt đầu phát triễn quyền lợi Nga ở Mãn Châu. Nhật sáp nhập Cao Ly năm 1910  và sử dụng tiền bồi thường nới rộng ngoại thương.    
           Nga phát triễn về phía Đông và mong muốn chiếm Mãn Châu.  Bằng một hiệp ước bí mật năm 1896 và một hối lộ lớn cho Lý Hồng Chương - Li hong- Zhang , Nga đã bảo đảm phía Tàu  quyền xây dựng  Đường Xe Lữa   Phía Đông của Tàu   ngang qua đất Mãn Châu ,  khỏi phải làm  con đường phía Bắc qua sông Amur dài hơn và khó khăn hơn,  nối Đường Xe lữa Tây Bá Lợi Á - Trans-Siberian Railway với hải cảng  Vladivostok ở Thái bình Dương. Cùng lúc Nga cũng  thuê mướn được bán đảo Liêu Đông có hải cảng Đại Liên-  Dairen và quân cảng Lữ Thuận.  Mãn Châu trở thành  những cạnh tranh  chủ yếu giữa Nhật, Nga, Trung Quốc từ cuối thế kỷ thứ 19 đến ngày nay. Năm 1903, Nga và Nhật  điều đình trực tiếp. Nga  công nhận  quyền Nhật hành động  tha hồ tự do ở Cao Ly. Nhưng Nhật, có sự trợ lực của Anh,  cố gắng giới hạn ảnh hưởng  của Nga vào vùng đường xe lữa mà thôi, và để Mãn Châu còn lại  hoàn toàn  cho Trung Quốc kiểm soát.  Trong khi  bàn thảo  ngưng đọng, Nga hoàng -Tsar Nicholas II  tuôn quân đội  về phía đông, qua ngã đường xe lữa.  Nhật  rời khỏi đàm phàn  và tấn công ngay tức thì ban đêm vào  hạm đội Nga ở Lữ Thuận, thành công ngăn cản mọi tàu chiến Nga rời quân cảng này.  Quân Nhật  vượt qua biên giới Cao Ly- Mãn Châu  ở sông Yalu, trong khi  quân đội Nhật chiếm  cứ Đại Liên và bổ vây Lữ Thuận  phía đất liền. Lực lượng Nhật  buộc quân Nga phải rút lui về phía Bắc, dọc theo đường xe lữa.  Lữ Thuận  ngã nhào tháng giêng 1905. Thiệt hại năng nề cho cả hai bên.  Chiến tranh  đất liền  đạt đỉnh ở Trận Mukden  ( Hán Việt ? ) , kéo dài trên 2 tuần lễ tháng 3 năm 1905 và bế tắc không ai thắng ai bại.   Trong lúc đó  Nga phái hạm đội   Nga bể Baltic đến tăng cường  quân lực Vladivostok . Anh  từ chối  cho phép hạm đội Nga dùng kinh đào Suez  hay bất cứ hải cảng Anh nào dọc đường.  Đô Đốc Nga  phải cho tàu chạy quanh Mũi Good Hope( Cap de Bonne Esperance  -  Mũi Vọng Ước)  Nam Phi Châu và đổ dầu  ở  các hải cảng Pháp tại Mã Đảo  - Madagascar  và Đông Pháp.  Đô đốc Nhật Togo Heichachiro  dự liệu đúng là Nga sẽ sử dụng một con đường ngắn hơn, bên trong các đảo  Nhật và rình chờ đánh hạm đội Nga, với một hạm đội  uy vũ ở Eo biển Đối Mã - Tsushima  Straits,  giữa Cao Ly và Nhật Bổn.  Hạm đội Nga bị đánh gần tan tành hết .   32 tàu chiến  trong số 35 tàu Nga không còn hoạt động được nữa.  Hải chiến tháng 5 năm 1905  này chấm dứt chiến tranh Nga - Nhật . Dư luận quốc tế  hoan hỉ thấy Nhật dũng cảm thắng con gấu Nga . Nhưng các cường quốc Tây Phương  bị cú sốc mạnh,  khi thấy một quốc gia Âu Châu  bị một xứ da vàng Á châu   đánh  bại  toàn diện và mau lẹ .  Cho nên các tòa thủ tướng , tổng thống Âu Mỹ duyệt xét lại chánh sách. Tổng thống Theodore Roosevelt   xếp đặt  một hòa nghị  ở Portsmouth, bang New Hampshire, công nhận “ quyền lợi tối cao “  của Nhật ở  Cao Ly , trao  cho Nhật  nữa phía Nam đảo Sakhalin ,  thuê mướn  Bán đảo Liêu Đông  và phần đường xe lữa Nam Mãn Châu  đến  tận phía Bắc ở  Trường Xuân - Chang Chun. Hiệp Ước Portsmouth không bồi thường gì cho Nhật , khiến dân Nhật rất bất mãn và thủ tướng Nhật Katsura phải từ chức . Dân Nga chưa bao giờ  có cảm tình với chiến tranh cả .  Cho nên chiến bại đã đưa đến cuộc Cách Mạng 1905 ở Nga.  Còn Ito Hirobumi nay là Hoàng tử - Prince Ito  khi vừa  rời chân khỏi dinh  Tổng Trú Sứ Nhật ở Cao Ly thi bị một dân Cao Ly ám sát chết  ở Nam Mãn Châu năm 1909. Cuộc đời của con người sinh ra là  một nông dân, đã đạt đến địa vị chỉ sau hoàng đế, đã thấy Nhật từ một quốc gia ít ai biết trở thành một cường quốc thế giới.  Hoàng đế Minh Trị  một con người cường tráng và tài giỏi , chết năm 1912, chấm  dứt một thời kỳ  Nhật bổn  làm kinh ngạc thế giới .

 
                                       Phần III ( tiếp theo và hết )
           
                            10 -  Bành trướng,  chủ nghĩa Tự do và Quân phiệt (  1914- 1931 )            

 
                              Dự toán  Cách Mạng do các lảnh tụ thời Minh Trị và phản ứng  ngoan ngoãn , nhiệt thành của dân gian Nhật đến năm 1912 là một thành công nổi tiếng. Nhật bổn đã  đạt một sức mạnh quân sự đáng thán phục. Nền kinh tế Nhật vươn lên đến mức  ngay nay gọi là  điểm cất cánh - takeoff  point . Làm việc nặng nhọc và tính cần cù  đã giúp công nghệ Nhật  tái đầu tư  15% vào  cơ xưởng , máy móc  những năm tốt đẹp , sau 1900,  mà vẫn còn thừa  để nâng cao đời sống xứ sở , nói tổng quát.  Một phần tư thế kỷ trước Thế Chiến thứ I, là một thời kỳ  khắp thế giới hăm hở  dành nhau thuộc địa, nhượng địa,  và những vùng ảnh hưởng ở Á  Châu và Phi Châu.  Nhật bổn  hùa theo các cường quốc khác, chi tiêu rất nhiều  về “ tự vệ - quốc phòng - defense “  từ 1890 đến 1914.Tổng số chi tiêu này tăng 4 lần ở Nhật  và mỗi dân Nhật đóng góp tăng từ 60 xu Mỹ đến 1.75 đô la. Tuy rằng con số này  nhỏ hơn Hoa Kỳ thời bấy giờ, mỗi đầu người Mỹ là 3.20 đô la và thua xa các  đối thủ  chánh cường quốc thế giới , Anh và Đức,  nhưng cũng  biểu hiện một cố gắng phi thường, nếu nghĩ đến sự kiện là Nhật chỉ mới bắt đầu chánh sách cận đại hóa sau năm 1868.
                             Khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ vào tháng 8 năm 1914, chánh phủ Nhật Okuma tức khắc vào phe Đồng  Minh - Allies , tuyên chiến với Đức và gửi một lực lượng tấn công các cơ sở Đức ở Sơn Đông - Shangtung , không lý gì đến  nền trung lập của Trung Quốc lúc đó.  Anh hiệp lực  chiếm hải cảng Tsingtao ( Hán Việt ? )  và 3 tháng sau Nhật đoạt  mọi tài sản Đức ở Sơn Đông  và đặt quân cảnh sát dọc đường xe lửa tỉnh này . Ở chiến dịch , lần đầu tiên máy bay quân sự được sử dụng . Lúc này Nhật cũng chiếm luôn  các đảo Đức giữ là các quần đảo Mariana, Caroline và  Marshall.  Nhật cho là đúng thời cơ để Nhật  cũng cố uy quyền ở lục địa.  Năm 1915 , Nhật  bí mật  trao cho Viên Thế Khải - Yuan Shi Kai  21 Yêu Cầu gồm 5  khoản.  Các khoản từ 1 đến 4 liên quan đến  quyền giới hạn ở Sơn Đông,  Mãn Châu,  miền Trung thung lũng sông Dương Tử và bờ biển Trung Quốc. Khoản 5  lên quan đến  bổ nhiệm người Nhật làm cố vấn  sự việc chánh phủ Tàu, kiểm soát chung Cảnh Sát, vài điều kiện ảnh hưởng đến  các kho võ khí và mua bán khí giới. Khoản cuối cùng này rỏ ràng vi phạm đến chủ quyền Trung Quốc, nên  các cường quốc Tây phương, dù đang  bận bịu chiến tranh cũng không thể bỏ qua.  Khi Viên Thế khải  cố tình thông tri cho báo chi thế giới biết  21Yêu Cầu này , Nhật đã phải buộc lòng   rút lui  những phần yêu cầu tranh luận nhất , nhưng cũng nhận được nhiều nhượng bộ đáng giá ở Sơn Đông, Nam Mãn Châu và Đông Nội Mông - Eastern Inner Mongolia .  Nhật nhắm vào kinh tế  trên nhữg yêu cầu này, nhưng  hậu quả chánh trị rất quan trọng ở Trung Quốc: bổng  nhiên Nhật  trở thành kẻ thù đế quốc chánh của nước Tàu . Ở thỏa hiệp Lansing -Ishii giữa Hoa kỳ và Nhật bổn năm 1917, cả  hai nước tôn trọng toàn vẹn lảnh thổ của Trung Quốc , nhưng cũng nhìn nhận, vì đất Nhật quen thuộc gần gủi nên Nhật có “quyền lợi đặc biệt “  với Lục Địa Á Châu   và Nhật có quyền bảo vệ .
                         Ở Hòa ước Versailles,  Nhật thành công  được Hội Quốc Liên - League of Nations,  ủy quyền  trên các đảo Thái Bình Dương nguyên thuộc Đức  và được công nhận có quyền đặc biệt  ở Sơn Đông.  Nhật thất bại  không ghi được một điều khoản bảo đảm bình đẳng chủng tộc - racial equality  vào Minh ước  Hội Quốc Liên, vì  Úc Châu và California chống đối  không cho di cư không phải là da trắng  du nhập  các xứ này. Tuy nhiên, Nhật được công nhận cuối chiến tranh là một trong “Ngũ Cường Lớn - Big Five “ ,  có ghế  ở hội đồng  Quốc Liên  và trổi dậy,  tốn rất ít chi phí người cũng như tiền bạc, uy vũ hơn trước nhiều lắm. Lợi lộc chánh cho dân Nhật không phải là chánh trị mà là kinh tế.  Nhật biết rỏ là đã tiến bộ nhiều từ Thế Chiến Thứ Nhất.  Đặc biệt ở đội tàu thương mãi - merchant  fleet, có những tàu chuyên chở   lớn nhất thế giới, khi mà tàu buôn  Anh , Đức bị đánh  chìm nặng nề và  tàu Mỹ mất mát lớn vì giao tranh tàu ngầm . Nhật cũng đã có khả năng rút ưu điểm ở ngành chế tạo mới, áp dụng  những tiên tiến kỷ thuật.  Chẳng hạn, Nhật  khỏi cần đầu tư nhiều  đóng tàu có động cơ pít tông chuyễn động qua lại - reciprocating engines tiên  tiến thẳng  đến các tuabin chạy hơi nước- steam turbines và động cơ diesel. Trong thế Chiến thứ Nhất, đội hải thương Nhật tăng lên gấp mười. Nhật  đã chiếm phần lớn ngành thương mãi tơ sợi và khi dứt chiến tranh, Nhật là một  quốc gia chủ nợ, số lượng vàng kim dự trữ  tăng lên 6 lần trong 6 năm .
                       Nhật tham gia nhiều trên trường chính trị quốc tế. Đồng thời trường chính trị quốc nội cũng thay đổi nhiều.  Nhóm nhỏ, tài ba nhưng vững chắc đầu sỏ chánh trị  Minh Trị, nắm quyền cho đến khi Chiến Tranh Thứ Nhất bùng nổ.  Khi Chiến Tranh chấm dứt, chánh quyền được phân phối rộng rải cho một  loạt các tinh hoa Nhật, tỉ như thư lại, doanh nhân, các lảnh đạo quân sự, Hội đồng Cơ Mật, bậc quí phái, các trí thức. Thập niên 1920 , đặc biệt giữa đầu thập niên, là  thời đại chánh trị tự do chủ nghĩa  - liberal politics ở Nhật . Khuynh hướng này thể hiện  ở thủ tướng Hara Kei  ( sinh năm 1856 ), chủ tịch đảng Seiyukai và là thường dân - commoner  đầu tiên làm thủ tướng Nhật. Ông giữ chức vị 3 năm cho đến khi bị  một nhân viên hửu phái ám sát. Lúc đảng phái nắm chánh trị, các quyền lợi doanh nghiệp có khuynh hướng  ngự trị, đôi khi với những phương tiện đáng ngờ vực, có nhiều ca tham nhũng bị khám phá  ở hai đảng chánh  Seiyukai và  Kenseikai .  Đảng này đổi tên thành Minseito năm1927 . Các doanh  nhân  chống lại những  mưu đồ  bành trướng quân sự  vì chúng tốn tiền thu thuế  và vì chúng đưa tới tẩy chay hàng hóa Nhật do các nhà quốc gia Tàu chủ trương. Đó là một phần cương lĩnh đảng  tả phái Seiyukai năm 1912, đề nghị rút các lực lượng Nhật đang tiến đánh Tây Bá Lợi Á - Siberia  với một  cuộc viễn chinh Đồng Minh chống Bolshevik  năm 1918  và đã  ở lại vùng này với hy vọng mơ hồ  có thêm lảnh thổ, sau khi quân Đồng Minh đã rút khỏi vùng. Thật ra, các nội các thập niên 1920,  có vẽ thích hòa bình hơn chiến tranh và thận trọng hơn là phiêu lưu mạo hiểm.  Có rất ít khác biệt ý thức hệ giữa các đảng phái.  Dù các đảng nhận  tài trợ từ khu vực đại doanh nghiệp, hội viên lại là  các doanh nghiệp nhỏ và các điền chủ nông thôn , không có phương  cách nào  khác bày tỏ nguyện vọng chánh trị.  Các  công nhân nghèo đô thị  không đủ tài sản đến mức có thể đi bầu cữ , cũng như không có kinh nghiệm hay sở vọng gì  để tham gia chánh quyền.  Nhưng con số công nhân  tăng mau.  Sản xuất nông nghiệp Nhật tăng gia 50% từ năm 1880 đến năm 1914 nay đã  bắt đầu san bình, không gia tăng nữa. Năm 1920 chỉ còn 50% dân sống ở nông nghiệp  và một số lớn nông dân di dời về đô thị.  Năm 1913,  28 %  dân Nhật  sống ở thị trấn trên 10 000 người, so với 16% năm 1893.  Sản xuất hàng hóa công nghệ tăng gấp ba từ năm 1914 đến năm 1929 .  
                 Chính nghĩa của giới công nhân được các đảng mới chánh trị bênh vực.  Oi Kentaro  một nhà tiền phong cấp tiến sớm  và ủng hộ Tôn Đật Tiên- Sun Yat Sen ( thiết lập Quốc Dân Đảng Trung Quốc ), lập ra đảng Tự do Đông Phương năm 1892 , nhưng đảng này chết yểu.  Đảng Dân chủ Xã hội- Social Democratic party  thiết lập năm  1901 dưới sự che chở  phần lớn của Thiên Chúa Giáo, có  một chương trình ngày nay tỏ ra hửu lý  là giáo dục  miễn phí - free education , ngày chỉ làm việc 8 tiếng đồng hồ,  bải bỏ dùng nhân công con trẻ, bị cảnh sát giải tán ngay hôm sau ngày thành lập. Đảng Cọng  Sản  thành lập năm 1921 ( cùng một năm với đảng Cọng Sản Trung Quốc )  thất bại vì bè phái  cũng như bị Cảnh Sát lưu ý, tự nguyện giải tán  năm 1924, nhưng năm sau  sống lại dưới hình thức  bất hợp pháp  và  hoạt động bí mật.  Nhưng chính Nghiệp đoàn Lao động -  Labor Union, hơn là các đảng phái,  mới thật  giúp cho nhân công lao động Nhật bày tỏ nguyện vọng.  Các năm chiến tranh  giúp nghiệp đoàn  thành hình ở nhiều ngành  công nghệ. Năm 1929 , số hội viên lên đến 300 000 người. Đình công khởi sự năm 1919 , xảy ra nhiều lần suốt thập niên 1920.  Nhiều mục tiêu nghiệp đoàn  đạt được năm 1925,   tỉ như phổ thông đầu phiếu  cho nam thanh niên trên 21 tuổi, giúp số người đi bầu  năm đó tăng thêm từ 3 triệu đến  14 triệu người .
                   Một trong những chánh trị gia xuất sắc của đảng tự do  là Ozaki  Yukio ( 1859- 1954 ). Khi còn là đô trưởng Tokyo , ông  biếu cho thủ đô Hoa Thịnh Đốn  những  cây hoa   hạnh đào -  cherry tree nổi tiếng. Ông làm chánh trị liên kết với Okuma.  Năm 1898, ông bị bắt buộc từ chức ở nội các vì trong một  diễn văn , ông đề cập đến  chủ nghĩa cộng hòa - republicanism ở Nhật.  Các  năm 1912- 13, ông lại đụng tới đề tài tế nhị  về vị trí của hoàng đế khi ông lảnh đạo Seiyukai, đối lập  thủ tướng  Katsura ở Quốc hội. Ba người  lảnh tụ theo  Thiên Chúa giáo  cấp tiến là Suzuki Bunji , Kagawa Toyohiko và Abe Isoo.  Màu mè và nhiều nhân cách nhất là  Kagawa .  Con rơi  của một bộ trưởng nội các và một cô đào geisha , ông trở thành mục sư Tin Lành , hoạt động ở các khu ổ chuột tại Kobe , sống trong một phòng bé tí xíu  5.6m2.  Các tư tưởng xã hội  du nhập vào đất Nhật  phần lớn là qua  các lảnh tụ Tin Lành. Kagawa  giúp Suzuki thiết lập các nghiệp đoàn.  Kagawa khởi sự viết văn và các truyện của ông trở thành sách bán chạy nhất - best sellers . Ông được mời nhận một  chức vụ cao cấp chánh phủ, nhưng từ chối. Ông hăng hái  hoạt động trong các hợp tác xã nông thôn và  và thành lập một dây chuyền viện dưỡng bệnh bài lao, cho một số lớn công nhân  mắc phải bệnh lao, vì các điều kiện thiếu vệ sinh  ở các nhà máy .( Luật qui định  không được thuê thiếu nữ làm việc quá  tối đa 11 giờ một ngày  ở các nhà máy bông vải, chỉ được ban hành ở Nhật năm 1916 ).  Ông bị bỏ tù năm 1921, vì tham gia đình công thợ thuyền ở Kobe  và một lần nữa bị giới quân sự giam giữ tại nhà, cuối đời ông, lần này vì muốn đề cao làm hòa vói Tàu  ở Thế Chiến Thứ  Hai . Nhưng khi bộ Tư Lệnh Tối Cao  Nhật hoảng sợ  vì hành động bạo hành quá xá  của binh lính Nhật ( không ở hàng sĩ quan ) trong vụ “Hảm hiếp Nam Kinh - Rape of Nanking “ năm 1937 , họ phải nhờ đến Kagawa  đi viếng thăm và nói với binh lính về kỷ luật tự giác. 
                     Tiếp theo Liên Minh Anh -Nhật  tái hạn năm 1911,  chấm dứt năm 1921,  là Thỏa Ước  Tứ Cường  Anh , Pháp , Nhật và Hoa Kỳ dự liệu  tôn trọng  quyền của mỗi nước này ở  Thái Bình Dương và   tham khảo nhau khi có khủng hoảng.  Sau đó một điều khoản   cực trọng được 4 nước chấp thuận là giới hạn các tàu  chiến - capital ship  theo sác xuất 5 : 5 : 3  cho Anh,  Hoa Kỳ và Nhật  và 1.67 cho Pháp và Ý  ( Nhật  muốn sác xuất 10 :10 : 7, nhưng không được ). Kèm theo là giới hạn   số tấn trọng tải  các tàu chiến , đường kính  súng đại bác,  và bảo đảm không  được nước nào xây cất  căn cứ hải quân mới gần Nhật hơn là Singapore hay Hawaii.  Một Hiệp Ước Chín Quốc Gia cũng đượcc ký kết năm 1922  theo  chánh sách  “ Mở rộng Cửa - Open Door”  và bảo đảm lảnh thổ toàn vẹn  cùng độc lập hành chánh của Trung Hoa.  Tuy nhiên, không có điều khoản nào buộc phải thực thi  thích nghi các thỏa ước , hiệp ước vừa kể cả . 
                      Năm 1923 , một trận động đất  lớn có  lữa  cháy  tiếp theo , phá tan  ½ thủ đô Tokyo  và  gần toàn thể Yokohama ( vì nhà cửa Nhật làm bằng gỗ ).   Hàng trăm ngàn người chết và thiệt hại vô vàn.   Tokyo được tái thiết :  trung tâm thủ đô  xây lại bằng thép và bê tông : dinh thự chánh phủ , nhà Hát Lớn , thương xá … , một mô hình các thành phố,  thị trấn Nhật bắt chước theo.  Thời đại thập niên 1920 cũng đem lại nhiều thay đổi thời trang xã hội và  các cách sống ở Nhật.  Phụ nữ  đạt thêm độc lập mới,  khi đi làm thư ký và nhân viên cơ sở công, tư.  Gia đình Nhât cũng thay đổi , vì  cha bớt độc tài , và chồng tỏ ra biết điều hơn. Vài nam nhân Nhật sửa soạn xem  vợ ngang hàng mình.  Có sân gôn - golftrượt tuyết - skiing cho dân Nhật giàu  và bóng chùy - baseball cho mọi người Nhật.  Sách vỡ ngoại quốc  được dịch  ra và phổ biến nhiều hơn bất cứ lúc nào trước đó ,  và dân Nhật trở thành dân đọc báo  hạng nhất thế giới. Nhạc hòa tấu và nhạc cổ điển Tây phương rất thịnh hành, trong khi phim xi nê, nhạc  Jazz, các tiệm cà phê ( đúng ra là quán rượu ) mọc như nấm, phục vụ cho  sở thích các moga ( thiếu nữ tân thời )  và các mobo ( Nam thanh niên tân thời ) . 
                      Giới thanh niên mạ vàng  này làm các nông dân bảo thủ  và các sĩ quan   Nhật trẻ tuổi và tha thiết yêu nước không còn chịu đựng nổi nữa. Đối với nhiều dân Nhật , hành vì các thanh niên nam nữ là dấu hiệu suy đồi ,  những phương cách  độc đoán cũ bị thất sủng  phải bỏ đi, lọt sàng cho  chủ nghÌa tự do và quốc tế thay thế .  Họ cũng cảm giác là những ý kiến hoa mỹ các chính trị gia các đảng tung ra , không thích hợp để cố vấn hoàng đế.  Vậy chớ ai  cố vấn tốt đẹp hơn cho Hoàng đế,  ngoài Quân Đội ?  Vì  Quân Đội là nơi cất giữ  các đức tính  võ sĩ samurai xưa cũ, và chỉ  có quân đội mới  duy trì thuần khiết được lòng trung thành thời xưa  trên cá nhân hoàng đế , theo đúng yamato - damaashii , “Tinh thần Nhật cỗ - The Spirit of Old Japan” .  Hoàn cảnh gia đình và thời cơ  của các sĩ quan trẻ tuổi  và  các lính thông thường là một thừa tố  đẩy mạnh   quyền lực gia tăng  của giới quân nhân. Các sĩ quan trẻ đa số là con các sĩ quan, các tiểu điền chủ  hay các nông dân . Họ bắt đầu  huấn luyện quân sự  nghiêm khắc, ít nội dung trí thức  ở tuổi mười bốn  và không có chút nào hiểu biết   những nguyên tắc dân chủ   hay chánh phủ đại điện dân , một điều hoàn toàn mới mẽ đối với Nhật.  Binh lính  từ nhà nông dân , khác với dân trẻ thành thị  đều mong  được gọi tòng quân.  Quân đội cung cấp cho binh lính  một đời sống vật chất tốt đẹp hơn, và an ninh xúc động dưới một uy quyền  thoải mái hơn là  một Đại Thẩm Tra Giáo Hội - Grand Inquisitor  của nhà văn  Nga Dostoevski.  Là nông dân họ là con số  không - zêrô.  Khi là lính  của thiên hoàng , xuất thân từ Nữ Thần Mặt Trời, họ cảm tưởng có  một tước hiệu  riêng biệt.   Bỏ thây cho đất nước  không phải là gian khổ  mà là vinh quang.  Không  mấy  khác các lính La Mã cỗ xưa cảm tưởng “ Dulce et decorum est pro patria mori -  Ngọt ngào thay , thích đáng thay,  khi chết cho tổ quốc “.  Sĩ quan cao cấp Nhật cũng có cảm giác như vậy, nhưng với lý do khác . Quân đội sẽ không còn nữa nếu chánh sách tự do tiếp tục.  Năm 1925 , quân đội chỉ còn 4 sư đoàn trong số  21 sư đoàn cũ .                                   
                         Quân đội tăng cường ảnh hưởng , khi tướng bá tước Tanaka Giichi lên làm thủ tướng . Tuy nhiên ông lựa chọn một chánh sách Trung Hoa không  sáng suốt,  cố chận đứng  quân Tưởng Giới Thạch Bắc tiến của chánh phủ Quốc dân đảng và bị bắt buộc phải  bỏ  cố gắng này .  Rồi các sĩ quan quá khích Nhật ở Mãn Châu  làm ông bối rối to. Họ giết chết lảnh chúa  Chang tso Lin ( Hán Việt ? )  bằng cách làm nổ tan chuyến xe lữa  chở lảnh  chúa với ý tưởng là  con lảnh chúa thống chế Trương Học Lương- Chang Hsueh Liang  sẽ dễ dàng để Nhật xâm chiếm  Mãn Châu. Tanaka đòi hỏi  phạt kỷ luật các sĩ quan này , nhưng Bộ Tư Lệnh -  Chỉ Huy Tối Cao Nhật  bỏ qua, khiến thủ tướng mất mặt, phải từ chức .  Nhiều tổ chức bí mật loại quốc gia cực đoan  mỗi ngày mỗi hoạt động gắt gao thêm .  Hội  biết đến nhiều nhất là Hội Hắc Long - Black Dragon Society , tên Tàu của sông Amur. Tên nhấn mạnh đến Mãn Châu  và một  trong những  đối tượng thú nhận  là thúc đẩy  dân Tàu rối loạn  để cho quân đội Nhật có cớ  tràn vào Mãn Châu, tái lập luật pháp và trật tự.
                       Trong những năm từ 1929 đến năm 1932, Nhật bị nhiều vấn đề cam go ám ảnh, cho nên các tay quá khích quân  đội  cảm tưởng là cần phải giải đáp  tuyệt vọng.  Khủng hoảng kinh tế là một hiện tượng toàn cầu , nhưng tại Nhật lại có những hậu quả lạ lùng.  Xuất cảng giảm 50 % hai năm sau , năm 1929 . Đau khổ lớn nhất cho  nông dân.  Giá tơ hạ 65% trong một năm , 1929- 1930 .  Lợi tức công nhân trụt  từ  chỉ số 100 năm 1926  xuống còn  69 năm 1931 .  Nông dân phải ăn võ cây và bán con gái  cho các nhà thổ (chứa đĩ điếm )  ở thị thành.  Dân chúng nổi giận nhắm về các zaibatsu, đồng hóa với các  lảnh chúa trong đầu óc họ.  Đau khổ của các gia đình nông dân  cũng lớn lao trong giới sĩ quan quân đội, rất nhiều sĩ quan xuất  thân ở nông thôn .  Họ có ý kiến là  nhờ lòng trung thành và danh dự  họ có thể vạch ra  cho Nhật ở lục địa Á Châu  một đế quốc , độc lập với phần thế giới còn lại, bảo đảm  đời sống vững bền cho  nông dân  và cho công nhân thành thị Nhật.  Những sự cố  xoáy lốc những năm trước ( đặc biệt ở Ý của phát xít Mussolini ) , tuồng như cống hiến cho  các nhà yêu nước  Nhật lý tưởng này, những dấu hiệu không lầm được  chính họ là những kẻ cứu quốc , cứu xứ sở ra khỏi lầm than . 
                      Thủ tướng Inukai làm những biện pháp mau lẹ  vượt qua những ảnh hưởng của khủng hoảng . Ông rút Nhật ra khỏi kim bảng vị một lần nữa. Xuất cảng tăng lên mau. Nhật bắt đầu phục hồi  mau lẹ hơn các nước đã công nghệ hóa.  Nhưng  khuynh hướng không trở lui lại được nữa ,  vì chuyễn hướng Nhật  về phía chủ nghĩa quân phiệt  đã bắt rễ chặc rồi . 
                       Trong thời mạt vận nhà Nguyễn Phước  bị Pháp tấn công không chống nổi,  đời vua Tự Đức, có một trí  tuệ lỗi lạc,  tư duy trên tầm thời đại là Nguyễn Trường Tộ ( 1828 - 1871 ), người Nghệ An theo Cơ Đốc Thiên Chúa giáo,  để lại một số di cảo, viết hàng loạt điều trần , luận văn ,  tờ bẩm trình nhiều  kiến nghị có tầm chiến lược, nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc  giữ  nền độc lập  một cách khôn khéo  mà vững chắc , về mặt kinh tế,  văn hóa xã hội, ngoại giao, quân sự v.v… , nhưng triều đình nhà Nguyễn Phước nói chung cũng như các nho sĩ , văn tânn thời ấy    chưa hiểu nổi luồng tư tưởng của ông, chưa coi trọng  đúng mức những kiến nghị cách tân của ông.  Dù rằng vua Tự Đức có lúc triệu ông “ vào kinh để  hỏi việc lớn “  và phái ông sang Pháp thuê thầy thợ , mua sách vở , máy móc, định du nhập kỷ thuật ( năm 1866-  1867 ) .
                       Nhưng  trên phương diện cứu nước, yêu nước , cách mạng tư tưởng ,  chánh trị ,văn hóa … thời bấy giờ lớn nhất  lại là của “ Ông già  Bến Ngự “  Phan Bội Châu , hiệu Sào Nam , quê làng Đan Nhiễm , huyện Nam Đàn,  tỉnh Nghệ An ( 1867- 1940 ) . Cụ Phan thiết lập ra hội Duy Tân năm 1904 , chọn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ , chủ trương bạo động  và nhờ Ngoại viện ( Nhật ? )   khôi phục nền độc lập .  Đầu năm  1905, ông sang Nhật và  trở về dấy lên  một phong trào Đông Du vào các năm 1905- 1908 .  Các tác phẩm của ông tuyên truyền cách mạng như Việt Nam vong quốc sử, Hải Ngoại huyết thư … vang danh khắp nước .  Lảnh đạo phong trào Đông Du, ông tổ chức Công Hiến Hội , tập hợp  200 học sinh  Việt sang Nhật học tập chánh trị ,  khoa học , quân sự.  Tháng 3 năm 1909, tổ chức Đông Du bị giải tán và cụ Phan bị Nhật trục xuất. Khi cuộc Cách mạng Tân  Hợi thành công ( 1911)  Phan Bội Châu trở lại Trung Quốc tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội , tôn chỉ duy nhất  là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam và thành lập nước “ Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam” .  Giữa năm 1924,  phỏng theo Trung Quốc Quốc Dân Đảng  của Tôn Trung Sơn ( Tôn Văn , Tôn Dật Tiên ),  Phan Bội Châu đã cải tổ  Việt Nam Quang Phục hội thành  Việt Nam Quốc Dân Đảng .  Ngày 30 tháng 6 năm 1925 ,  trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu  , vừa đến ga Thượng Hải  thì ông bị thực dân Pháp bắt cóc  đem về nước. Chúng âm mưu thủ tiêu  Phan Bội Châu , nhưng việc bại lộ, nên phải đưa ra xử ở  tòa đề hình Hà Nội . Trước phong trào đấu tranh  bải khóa , bải công ,bải thị  rầm rộ khắp nước , thực dân Pháp bối rối phải  tuyên bố tha bổng cụ Phan,   nhưng bắt cụ Phan phải về ở Huế, không được đi bất cứ đâu. Từ năm 1926 trở đi,  Phan Bội Châu  phải bỏ dỡ cuộc sống hoạt động Cách Mạng , nhưng  dù sống “ cuộc đời cá chậu -chim lồng “ , cụ vẫn làm thơ  nói lên trách nhiệm của người dân đối với nước… ở các tác phẩm  như  Nam quốc dân tự trị, Nữ quốc dân tự trị, Bài thuốc chửa bệnh dân nghèo, Cao Đẳng Quốc dân, Luân lý vấn đáp, Lời hỏi Thanh niên … , ngoài những công trình biên khảo đồ sộ như Khổng học đăng , Phật học đăng,  Xã hội chủ nghĩa , Chu dịch , Nhân sinh triết học  …  
                        Từ đầu thế kỷ thứ 20 đến  các năm 19 20- 30 ,  văn học Việt Nam có nhiều biến chuyễn lớn.  Có hai đặc điểm cơ bản : - hàng loạt  cuộc cách tân  sâu sắc , nhiều thể loại  đem đến cho nền văn học dân tộc  bộ mặt hiện  đại . - nhịp điệu phát triễn mau lẹ   nhiều thành tựu phong phú , tuy đã để lại không ít yếu tố  phức tạp tiêu cực.  Giai đoạn đầu từ những năm đầu thế kỷ đến 1920  là phong trào sáng tác  phục vụ Cách mạng theo đường lối  tư sản . Lảnh tụ Phong trào là những nhà trí thức Hán học  ( Phan Bội Châu , Phan Châu Trinh , Ngô Đức kế , Huỳnh Thúc Kháng… )  nhờ đọc Tân Thư  (Trung Quốc) , khuynh hướng cải cách tư sản Trung Quốc , mô phỏng tư tưởng cách mạng tư sản Âu Mỹ , dùng ngòi bút viết  nên những bài văn thơ tuyên truyền cổ động, lời chính luận vừa hùng hồn , đanh thép ,  vừa chứa chan tâm huyết .  Nhưng tinh thần “ duy tân”  của họ  nặng về  quan điểm  chánh trị, xã hội  học thuật hơn là thẫm mỹ . Họ thường  viết bằng chữ Hán .  Từ năm 1920,  1930 trở đi,  những cuộc cách tân văn học , ảnh hưởng của Pháp ,  thật sự thành phong trào sôi nổi.   Hai cuộc  khai thác thuộc địa  của Pháp trước và sau Thế Chiến thứ Nhất (1914-18 )  gây biến đổi  trong cơ cấu kinh tế , xã hội Việt Nam. Từ các đô thị, thị trấn, một công chúng mới xuất hiện : tư sản , tiểu tư sản , thợ thuyền , dân nghèo .. Các phương tiện phổ biến văn chương bằng  kỷ thuật ( nhà in , nhà xuất bản , báo chí … )  góp phần đẩy mạnh đổi mới văn hoc.   Công cuộc đổi mới này bắt đầu  từ sự hình thành  các thể văn xuôi quốc ngữ  đã được thử nghiệm lẻ tẻ,  từ cuối thế kỷ thứa 19.  Sau  năm 1920,  từ Nam ra Bắc  đã xuất hiện   nhiều cây bút có tài ( Hồ biểu Chánh  , Hoàng Ngọc Phách, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học , Tương Phố ,  Đông Hồ.. ). Từ năm 1930 hầu hết các thể văn xuôi  đều được hiện đại hóa  với nhiều tài năng xuất sắc (  Tam Lang , Vũ Trọng Phụng , Xuân Diệu,  Nguyễn Tuân , Nhất Linh,  Khái Hưng, Ngô Tất Tố , Nguyên Hồng , Đổ Đức Thu,  Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Thanh Tịnh , Hồ Dzếnh , Tô Hoài , Bùi Hiễn… ) .   Sự đổi mới thi ca gắn với sự ra đời cái “tôi” cá nhân bắt đầu bằng Phạm Thái , Hồ Xuân Hương , Nguyễn Công Trứ , Đào Tấn … ( thế kỷ thứ 19 ), những vùng vẫy mạnh mẽ hơn trong những vần thơ phóng túng, lãng mạn của Tản Đà ( trước , sau 1920 ). Cuối cùng sự giải phóng ra khỏi hệ thống qui ước của thi ca cũ với một thế hệ nhà “ Thơ Mới “ rất trẻ và tài ba : Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tố Hửu , Lưu Trọng Lư …. Tưởng cũng nên biết hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên “ tự điễn Việt - Bồ la tinh ” và “ phép giảng 8 ngày” của cha Đắc lộ Alexandro de Rhodes , linh mục Dòng Tên năm 1651 đã khai sinh ra chữ quốc ngữ ( Trần văn Cảnh, Định Hướng mùa hè năm 2010) . Chẳng bao lâu những nhà văn quốc ngữ đã xuất hiện như Trương Vĩnh Ký . Huỳnh Tịnh Của. Rồi sự ra đời năm 1865 của tờ báo “ Gia định báo ” tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Nam Kỳ. Từ năm 1905, chữ quốc ngữ lại được các nho gia cách mạng trong phong trào duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục như Lương văn Can, Nguyễn Quyền , Phan Châu Trinh … cổ võ truyền bá .. Năm 1907, Đông Cổ Tùng Báo ra đời với chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh. Nhiều báo khác tiếp theo như Đông Dương Tạp Chí cũng với Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Phong Tạp chí với Phạm Quỳnh. Các nhà in đượcc thiết lập; hội dịch sách ra đời; công việc biên khảo và phê bình phát triễn; các ký sự tiểu thuyết mới ra đời; thơ mới ra đời; Tự Lực Văn Đoàn …, cả một nền văn học mới đã được chữ quốc ngữ mở ra.     
                                                                                             
                      11- Mãn Châu Quốc, Trung Nhật Chiến Tranh và Thế Chiến Thứ hai ( 1931 - 1945 )

 
                   Những quân đoàn tuyệt diệu bộ binh Nhật, quân đội Kwangtung - Quảng Đông Mãn Châu trở nên thiếu kiên nhẫn .Chánh phủ Quốc Dân ( Đảng ) Trung Hoa mạnh thêm hơn, và thời đại lảnh chúa có thể mua chuộc hay dọa dẫm đang qua mau. Hai sĩ quan quân đội Kwangtung cấp bậc đại tá Itagaki và Ishiwara quyết dịnh đúng là thời gian nên tấn công. Họ có sự ủng hộ của bộ Tư lệnh Tổng Chỉ Huy ở Mãn Châu , nhưng tham mưu trưởng muốn biết thái độ của Bộ Tổng Tham Mưu Tokyo. Trung tướng Tatekawa được phái đến với một bức thư cấm mọi khiêu khích, nhưng rồi có vài chuyện lạ lùng xảy ra. Ông đánh điện là ông đang tới và các đại tá vẫn tiến hành thời khắc biểu. Tatekawa không dùng máy bay mà đi tàu hỏa xuyên qua Cao Ly . Khi tới Mukden tối hôm 18 tháng chín 1931, ông đến ngay một trà thất geisha, không có tí gì cố gắng trao thư. Tối hôm đó, một quả bom nổ ở đường xe lữa, ngay phía Bắc Munkden .
                     Đại tá Iatagaki chỉ thị cho quân lính tấn công lực lượng Tàu ở thành phố. Kho vũ khi, sân bay và trạm rađiô bị chiếm cứ trước bình minh Đến ngày 21 tháng chín , quân đội Nhật chiếm Kirin ở vùng Tây Bắc và tràn khắp Mãn châu, xa hơn vùng đường xe lữa   thuộc quyền Nhật quản trị. Chánh phủ Tokyo bối rối, giải thích trước tiên là Nhật hành động để tự vệ và thứ hai là quân đội Nhật đã trở về lại vùng đường xe lữa. Nhưng thật sự chưa bao giờ có vấn đề rút lui. Chánh phủ được bộ trưởng chiến tranh ủng hộ. Mãi sau , mới biết rỏ là toàn thể sự cố, kể cả nổ bom, đều cố tình dàn dựng. Lý do bề ngoài của những chuyễn quân này là để dẹp tan “ giặc cướp - banditry “ Một số lượng trộm cướp thật sự đặc hửu địa phương xảy ra ở miền quê Mãn Châu: những nông dân đói khổ mất mùa, dùng những phương tiện bạo động, hầu tồn tại sinh sống . Các thân kê - millet cao 2- 3 thước làm chỗ ẩn núp kiệt xuất , giúp mọi băng đảng nông dân tuyệt vọng tấn công bất ngờ dễ dàng. Nhưng rối loạn này không hề đe dọa các hoạt động kỷ nghệ và chuyên chở của Đường Xe lữa Nam Mãn Châu . Rỏ ràng Nhật là muốn mở rộng kiểm soát khắp xứ Mãn Châu. Đầu năm 1932, Nhật đã đạt mục tiêu kế tiếp là Nhật cảm giác có thể dựng lên một quốc gia bù nhìn Mãn Châu Quốc - Manchukuo , dùng hoàng đế cuối cùng nhà Thanh -Ching Trung Hoa Henry Pu Yi - Phổ Nghi  cai trị và cố giả danh đó là nguyện vọng dân” Manchu - Mãn Châu” . Tháng 9 năm 1932 , chánh phủ Nhật công nhận Mãn Châu Quốc . Cách cai trị khắp quốc gia mới này đơn giản và đồng đều. Mọi chức vị từ thủ tướng đến thị trưởng địa phương do dân Tàu nắm giữ , như họ chỉ là bù nhìn. Thực quyền trong tay các phụ tá của họ, ở địa vị thứ hai, đều luôn luôn là Nhật. Đặc điểm thực sự của chế độ là sự kiện Đại sứ của Hoàng đế Nhật ( Thiên hoàng ) ở triều đình Mãn Châu tại kinh đô Hsinking, Tràng Xuân - Chang chun cũ, là tướng Tổng Chỉ Huy quân đội Nhật Kwangtung. 
               Chánh phủ Quốc Dân( Đảng ) Trung Quốc kháng cáo cuộc chiếm cứ bất hợp pháp này lên Hội Quốc Liên và Hột gửi Ủy Ban Lytton ( trưởng ban là huân tước - Lord Lutton vương quốc Anh ) điều tra. Trên chứng cớ những sự kiện và thông tin từ các nhà trí thức Tàu yêu nước và những người khác ở Mãn Châu, thật minh bạch là Mãn Châu Quốc thiết lập không phải từ nguyện vọng dân Mãn Châu . Khi Ủu Ban báo cáo tháng chín năm 1932, Nhật bị Hội Quốc Liên buộc tội vì những hành động Nhật ở Mãn Châu . Nhật trả lời bằng cách rời các phiên họp và bỏ ra khỏi Hội Quốc Liên. Các quốc gia hội viên không đưa ra trừng phạt nào đối với Nhật cả. Màn cảnh sự cố có vẽ xa xăm đối với các quốc gia Tây phương, nhưng yếu xùi của Hội Quốc Liên và các cường quốc gây ra những hậu quả tai họa. Chắc chắn là các phiêu lưu của Mussolini ở Ethiopia năm 1935 và chiếm cứ vùng Rhur cùng những hành động xâm lăng kế tiếp của Hitler đều nhìn về phía Mãn Châu như thể con cờ thử nghiệm thất bại, không sản xuất cái gì cả, ngoài kết án miệng lưỡi thôi. Nhưng không phải chỉ Hội  Quốc Liên yếu kém, vô quyền mà bộ Ngoại Giao và các bộ trưởng dân sự chánh phủ Nhật cũng không đủ khả năng chống lại lữa cháy tiến nhanh ở Mãn Châu do quân phiệt Nhật tạo dựng. Chánh phủ không biết gì cả những dự tính dẫn đến Sự Cố Mãn Châu cho đến khi là sự đã rồi- fait accompli.
              Mãn Châu Quốc không biến thành thuộc địa Nhật theo tinh thần hấp dẫn nông dân Nhật đến định cư ở đây. Khí hậu và mùa màng không giống Nhật, nông dân quen thuộc. Nhưng lảnh thổ mới chiếm là lý tưởng cho chủ nghĩa đế quốc của quân đội Nhật, của giới quân phiệt Nhật. Mãn Châu chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên các công nghệ mới khai thác, hưởng lợi. Nhưng trên tất cả, Mãn Châu là một căn cứ lục địa xây dựng được cho quân đội Kwangtung Nhật làm bàn đạp đánh miền Bắc Trung Quốc, khi cơ hội chín mùi. Các lảnh tụ giới quân phiệt Nhật không chỉ hoạt động quân sự . Họ tăng dần tấn công các “tư duy nguy hiểm - dangerous thoughts “ các lảnh tụ trí thức Tàu. Mọi nhân vật nổi bật các nhà thờ Thiên Chúa có tiếp xúc với người ngoại quốc, các nhà chuyên môn như bác sĩ y khoa, hay ai giao thiệp gần gủi với các nhà Quốc dân đảng Tàu đều bị nghi ngờ . Họ bị quân cảnh Nhật kempetai bắt giữ , tra tấn dã man ( kể cả tra khảo sốc điện, ngâm chìm trong nước rồi tra tấn lại - water torture … ) . Rất nhiều dân Tàu đau khổ nặng nề khi bị cảnh sát và quân đội Nhật hạ nhục. Tiết lộ nhưng sự kiện này sau đó gây ra sửng sốt , kinh hoàng trong giới tự do và hòa bình Nhật ngay trên đất Nhật , không tin nổi là dân Nhật lại có thể cư xử bạo tàn, tệ hại như thế . Giới quân phiệt tương đối dễ dàng tại Nhật   truyền bá   tiến trình “ động viên tinh thần ” phục vụ hoàng đế và xứ sở. Nhưng những cố gắng tương tự ở Mãn Châu Quốc không mấy kết quả . Hải hùng hơn nữa là sự lan tràn ma túy, không phải chỉ hút thuốc phiện truyền thống mà còn nghiện ngập bạch phiến -heroinmoọc phin - morphin . Chức quyền Nhật ở Mãn Châu, khác với Quốc Dân Đảng Tàu, không có cố gắng nào trừng trị thẳng thừng nạn buôn ma túy, thịnh hành từ thời các Lảnh chúa - Tướng Quân Tàu . Vài dân Tàu Mãn Châu tố cáo là quân đội Nhật cố tình phân phối và bán ma túy ở Mãn Châu Quốc vào thập niên 1930, hầu mua chuộc và làm suy yếu tinh thần dân chúng Tàu.
              Chánh sách Nhật tuy không phải luôn luôn là thái độ , tình cảm dân gian Nhật, tiếp tục nghiêng về phía hửu. Chủ nghĩa Mác xít - Marsism , kể từ Thế Chiến Thứ Nhất, càng ngày càng lôi cuốn trí thức thế giới, bị đàn áp tàn nhẫn. Khoảng 3000 đảng viên Xã Hội, Cọng Sản và Nghiệp đoàn bị bắt năm 1932 và 1933. Phần lớn bị tù và vài người bị tra tấn đến chết. Nhà tài chánh Inoue và Nam tước Dan , tổng giám đốc điều hành Mitsui bị ám sát đầu năm 1932, cũng như thủ tướng Inukai vài tháng sau. Các phiên tòa xét xử quân đội và dân sự quá khích Nhật trách nhiệm về những ô nhục này, được dùng làm diễn đàn cho quan điểm của giới quân đội quân phiệt và các tuyên án thường nhẹ bổng một cách lố bịch. Dân Nhật có cảm tưởng là lòng yêu nước , “ thành thật ” và “’ động cơ thuần khiết”   biện hộ cho những hàng động khủng bố của họ. Chính quân đội cũng có nhiều bè phái, một trong những chia rẽ là giữa các tướng tá đã theo học Đại học chiếnTranh - War College và   các quân nhân đã bị đe dọa ở tham vọng đầy uy tín này . Tướng Nagata Tetsuzan có trách nhiệm năm 1934 sa thải một tướng quá khích. Một trung tá đơn giản bước vào văn phòng ông và đâm chết ông bằng kiếm. Tại phiên tòa, trung tá nói rằng ông chỉ hối tiếc là đã không giết chết tướng Nagata chỉ bằng một nhát kiếm duy nhất. Cuộc “ săn bắt phù thủy - witch hunt “ lan rộng tới học đường hàn lâm . Điển hình nhất là vụ giáo sư Minobe Tatsukichi, đại học Tokyo, bị đuổi không cho dạy nữa và mọi công trình ông bị cấm lưu hành, dù đó là những sách giáo khoa tiêu chuẩn từ nhiều năm qua , chỉ vì trong các sách ông xuất bản gọi thiên hoàng là “ một bộ phận chánh phủ ” thay vì là những từ ngữ ca tụng, đặc hửu hơn. Không phải bộ binh quân đội Nhật luôn luôn làm được theo ý mình. Bầu cử, đặc biệt cho năm 1937, đưa trở lại một số lớn các thành viên tự do và những kẻ chống đối hành động bộ binh. Hải quân ít quá khích hơn và các tay tích cực bộ binh , bị bó buộc phải chấp nhận hai thủ tướng ôn hòa là các đô đốc Saito Makoto và Okada Keisuki, các năm từ 1932 đến 1936 . Phương pháp bộ binh Nhật sử dụng kiểm soát chánh phủ đã có từ thời hiến Pháp Minh Trị thiên hoàng kiểu mẩu Phổ - Prussian , đặt vị trí Thiên hoàng đứng đầu quân đội. Thành quả là Tổng Tham Mưu đặt thẳng dưới quyền Thiên hoàng. Bộ trưởng bộ binh trở thành trực tiếp trách nhiệm với Thiên hoàng, đồng thời cũng có chân trong nội các chủ tịch là thủ tướng chánh phủ. Vì phe quá khích luôn luôn nêu lên danh nghĩa Thiên hoàng , thật khó cho bất cứ ai chống lại lựa chọn của họ vào những chức vị cao cấp. Điểm cao nhất hành động trực tiếp xảy ra ở cuộc Nổi loạn Tokyo tháng Hai năm 1936. Vài sĩ quan cấp nhỏ Đệ Nhất Sư Đoàn cùng 14000 binh sĩ đảo chánh ngay tại thủ đô.  Họ ám sát vài bộ trưởng nội các và nhân viên bộ Gia đình Thiên Hoàng, chiếm vài dinh thự chánh phủ ở trung tâm thủ đô, kể cả Quốc hội và bộ Bộ Binh. Hải quân và các nhóm quan trọng khác hoàn toàn chống đối đảo chánh. Saionji, Trưởng Lảo Chánh Khách duy nhất sống sót, cương quyết ủng hộ Thiên hoàng và những lảnh tụ đảo chánh bị xem là dân nổi loạn. Binh lính được gọi từ nhiều chỉ huy khác và nổi loạn bị đè bẹp. Lần này không có phô trương diễn đàn và một xét xử mau lẹ, xử tử 13 lảnh tụ đảo chánh .
        Nhât ký Minh ước Chống Đệ tam Quốc tế- Ani Commintern Pact với Đức tháng 10 năm 1936 , dấu hiệu cho thấy Bộ binh quân đội Nhật xem Nga là mối đe dọa dứt khoát cho nền an ninh Nhật. Tuy nhiên năm 1937 , bộ binh Nhật mạo hiểm bắt tay vào đánh Trung Quốc , sau khi đã an bài ở Mãn Châu. Đây là bước tiến kế tiếp   phát họa chứa trong Thông Diệp Tanaka dự liệu xâm chiếm : Mãn Châu , Trung Quốc, Đông Nam Á, Úc Châu, Ấn Độ. Tài liệu này phản ảnh tư duy của các tay Đế Quốc bộ binh Nhật, dù ngày nay   không được xem là là tài liệu quốc gia chân chính của chánh phủ Nam Tước Tanaka, thủ tướng Nhật năm 1927. Sửa soạn theo cúu cánh này đã được Nhật thực thi khá lâu rồi. Cảnh sát đường xe lữa Nhật đã kiểm soát các chuyễn động người và hàng hóa ngoài biên giới Mãn Châu đến miền Bắc Trung Quốc, tiến tới Thiên Tân- Tientsin và Bắc Kinh theo quyền lợi giả thiết an ninh Nhật. Chánh phủ Quốc Dân đảng Trung Quốc bận rộn về những vấn đề đồ sộ cận đại hóa quốc gia và chế tạo vỏ khí chiến tranh, cũng như cam kết trường kỳ chống cọng sản Tàu, cảm thấy bất lực ngăn ngừa những xâm phạm từng giai đoạn của Nhật. Cuối cùng vào tháng bảy năm 1937, lực lượng Nhật thao diễn ở vùng Bắc Kinh xung đột với binh lính Tàu đồn trú tại Lư Cầu Kiều - Marco Polo Bridge .            

Xung đột đã được so sánh với sự cố Mãn Châu , nhưng xung đột mới không dự tính trước, ít nhất là ở mức cao cấp, vì chức quyền Nhật hy vọng dễ dàng chiếm miền Bắc Trung Quốc, không cần quân đội giao tranh. Tính toán Nhật lầm to, cuối cùng rất tai hại. Khi đã xảy ra, Nhật gửi thêm nhiều quân tiếp viện. Nhưng chỉ huy trưởng Tàu ở Bắc Kinh chống trả mảnh liệt, dù nguồn lực quân sự của ông yếu kém. Nhật cũng tiến vào Thượng Hải và ở đây cũng gặp chống cự lớn lao. Chiến tranh giới hạn, nếu gọi đó là chiến tranh; Bộ Chỉ Huy Cao Cấp Nhật hy vọng sẽ thắng mau lẹ, và đó cũng tỏ ra là nhận định sai lầm. Cả hai bên bố trí một cuộc chiến đấu lâu dài . Như vậy Thế Chiến Thứ Hai thật sự không phải bắt đầu năm 1941, khi Trân Châu Cảng - Pearl Harbor bị Nhật tấn công, đưa Hoa Kỳ kiên quyết vào vòng chiến tranh. Cũng không phải năm 1939, khi Anh Quốc và Pháp chống cự lại Hitler mà là năm 1937, khi Trung Quốc quyết định là không cam chịu nhu mì Nhật xâm lăng .
       Điểm khôi hài là cố vấn quân sự ngoại quốc cho Tưởng Giới Thạch - Chiang Kai Shek là các sĩ quan nước Phổ, đồng minh với Nhật, kẻ thù của Tàu. Họ đã phục vụ tốt đẹp Trung Quốc , đề cao một chiến lược Tưởng Giới Thạch làm theo: có nghĩa là trao đổi lảnh thổ mênh mông của Tàu với thời gian, trong khi chờ đợi đồng minh đến viện trợ. Trung Quốc tránh những đụng độ lớn với lực lượng Nhật mạnh hơn và một tháo lui chiến lược, tuần tự rút về các núi non tỉnh Tứ Xuyên - Szechuan . Trong cuộc tháo lui, Trung Quốc thực hiện những cố gắng phi thường cứu vớt cả vật liệu lẫn nhân công. Các xưởng tơ sợi và các kho võ khí ở Thượng Hải và các thị trấn khác ở bờ biển được tháo gỡ, máy móc chuyên chở sâu vào nội địa bằng xe bò , thuyền trên sông hay sau lưng các cu li theo một dây chuyền không bao giờ chấm dứt. Sinh viên và giáo sư mang theo sách, dụng cụ labô và tái lập các viện đại học ở những khu tạm trú cách đó trên hàng ngàn dặm Anh.

 
       Nhật không bao giờ đủ khả năng để chiếm toàn thể nước Tàu. Nhật có thể thả bom, nhưng bộ binh không tiến sâu nổi vào các tỉnh núi non miền Tây Nam Tàu để thắng hẳn. Nhật tràn khắp những vùng chánh yếu của Tàu, các thành phố, thị trấn lớn và các đường giao thông. Đây là một cuộc chiến tranh tốn kém quá sức cho cả Tàu lẫn Nhật. Các lực lượng du kích phần lớn do Cộng Sản tổ chức hoạt động ngoài Diên An - Yenan vùng Tây Bắc Tàu, thường xuyên tấn công và đánh bại các đồn trú hẻo lánh Nhật, làm gián đoạn giao thông và thành công cung cấp cho mình   xe vận tải, súng ống, đạn dược, cả đồng phục từ các đơn vị thù địch nhỏ họ đã đánh bại. Đặc biệt Cọng sản Tàu thành công tổ chức kháng chiến   và hệ thống tình báo giữa giới nông dân Tàu, rút thêm kinh nghiệm tổ chức cộng đồng và kiểm soát cấp cơ sở địa phương, sau này tỏ ra có giá trị vô cùng cho chính nghĩa cọng sản, khi chiến tranh Trung - Nhật kết thúc. Nhờ viện trợ Hoa Kỳ và Anh đến Trung Hoa Tự Do, tương đối nhỏ nhưng số lượng đáng kể ; trước tiên theo Đường Miến Điện - Burma Road , và khi đường này bị đóng cửa , theo không vận từ Ấn Độ “ trên cái bướu”   núi non hiểm trở, Trung Quốc đủ khả năng chống giữ và dồn Nhật vào thế bí, bất phân thắng bại.
             Một khi chiến dịch đánh Tàu đã tung ra năm 1937 , Quân đội ( Bộ Binh ) Nhật được toàn dân ủng hộ và có khả năng thu hoạch mọi dàn xếp Quân đội mong muốn. Luật Động Viên Quốc Gia tháng 11 năm 1938 cống hiến cho chánh phủ   một quyền uy rộng rải trên kiểm soát giá cả và lương bổng, một dự án đăng ký   và tiết kiệm bắt buộc, chỉ đạo vật liệu và lao động và chánh phủ chiếm hoạt động ở vài ngành công nghệ. Một tổ hợp Phát triễn Công Nghệ Mãn Châu với tư bản chánh phủ được thành lập năm 1938 và những cung cấp thêm than đá, sắt và hóa chất cũng được thành lập qua Tổ hợp Phát triễn Bắc Trung Hoa, hai năm sau. Các đảng chánh trị bị nuốt chửng năm 1940, qua một loại liên kết thời chiến, tên gọi là Hiệp Hội Phụ Giúp Cai trị của Thiên Hoàng - Imperial Rule Assistance Association . Năm đó, nội các trở thành gần như một vô dụng vật, những quyết định trọng yếu nay do một Hội đồng Liên lạc - Liaison conference thủ tướng , bộ trưởng chiến tranh, bộ trưởng hải quân, và các tướng Bộ Tổng Tham Mưu tham dự. Các bộ trưởng khác chỉ tham dự khi được mời. Trên những cố găng thoát khỏi thế bí Chiến Tranh Trung - Nhật, chánh phủ Nhật dụ được một chính khách Tàu đủ uy thế cầm đầu một chánh phủ bù nhìn ở Bắc Kinh. Uông Tinh Vệ - Wang Chinh Wei nhận đóng vai trò này năm 1940 , nhưng không đem lại cho Nhật ảnh hưởng mong muốn. Trung Hoa không giảm bớt kháng cự và bóng ma Nga hiện ra sau lưng Nhật. Có một nhóm lảnh đạo ở Tokyo   muốn điều đình với Anh và Hoa Kỳ để cân bằng Nga đe dọa. Tuy nhiên Matsuka Yosuke, nay là ngoại trưởng nội các, của thủ tướng Konoe Fuminaro lại hoàn toàn tin chắc là Đức sẽ thắng cuộc cuối cùng ở Âu Châu. Ông có nhiều chứng cớ vào năm 1940 để tin như vậy. Từ 10 tháng 5 đến 4 tháng 6, Đức thành công vĩ đại trong nhưng tấn công đột ngột và dữ dội - blitzkrieg vào Hà Lan , Bỉ và Pháp, mà đỉnh cao là Đồng Minh rút khỏi Dunkerque - Dunkirk . Chiến trận trên không ở Anh Quốc tiếp theo và và kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1940. Nhưng Goering và không quân Đức - Luftwaffe lại thất bại không phá tan được Không Quân Hoàng Gia Anh - Royal Air Force, không dọn đường được cho xâm chiếm các đảo Anh Quốc, có cơ chấm dứt chiến tranh. Matsuka bốc đồng, không chờ đợi đủ lâu. Ông để Nhật ký kết Hiệp ước Ba Nước - Tripartite Pact với Ý và Đức, cũng vào tháng 9 năm 1940 . Tháng 11, khi trận chiến Anh Quốc nghiêng về phía Anh, có lẽ các bạn đồng nghiệp của ông sẽ không cho ông ký kết Hiệp Ước này đâu. Tháng 4 năm 1941, một thỏa hiệp trung lập   giữa Nhật và Nga được ký kết - một thắng lợi của Matsuoka- và Nhật cảm tưởng dễ thở hơn. Nhưng không được bao lâu cả . Vì tháng 6 năm đó, Hitler bất thình lình tấn công Nga , không báo trước cho Nhật. Nhật phải đối diện lựa chọn giữa Hiệp Ước Ba Nước với Đức và thỏa hiệp trung lập ký với Nga. Nhật quyết định theo thỏa hiệp với Nga. Ngoại trưởng Matsuoka thân Đức, bị gạt bỏ khỏi nội các .                                                         
           Tình trạng kinh tế nay làm các nhà lảnh đạo Nhật lo ngại. Nhật đã tích trữ lớn suốt thời kỳ Trung Nhật chiến tranh, nhưng cung cấp dầu lữa khẩn thiết lại không đủ. Năm 1940, Hoa Kỳ cấm xuất cảng vài vật liệu chiến lược qua Nhật, truớc tiên là sắt vụn , rồi thép và cuối cùng là dầu lữa . Để bảo đảm cung cấp dầu lữa , Nhật gửi hai phái doàn đến gặp Hà Lan đang đô hộ Inđônexia, nhưng Hà Lan chần chừ và chỉ thỏa thuận cung cấp một số lượng nhỏ. Dù tình thế khẩn cấp, Hải quân Nhật khuyên cẩn trọng. Nhật chưa sẳn sàng gây chiến với Hà Lan, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đánh chiếm dầu lữa bằng võ lực . Đô đốc Nomura Kichisaburo được gửi đến Hoa Kỳ điều đình. Nhưng bộ binh quân đội Nhật không kiên nhẫn và quá tự tín. Một quyết định xâm lăng Đông Nam Á tháng 7 năm 1941; Pháp Vichy ( thời thống chế Petain ở Đông Pháp là đô đốc De Coux ) buộc lòng phải thỏa thuận. Khi Nhật gửi quân đến, Hoa Kỳ tức khắc đông giá mọi tài sản Nhật và thương mãi giữa hai nước ngưng hẳn.
         Căng thẳng giữa phe điều đình và phe chiến tranh ở Nhật dâng cao .Thủ tướng Konoe cố sức giữ thăng bằng. Nhưng tháng 10 năm 1941, Konoe bị bắt buộc phải từ chức và tướng Tojo - Đông Điều ( Mỹ mệnh danh là “ Dao Cạo - Razor “) Hideki trở thành thủ tướng ngày 17 tháng 10 . Tojo, một quân nhân từ đầu đến cuối, bắt đầu ngay tổng động viên và làm kế họach chiến lược chiến tranh. Những điều khoản Hoa Kỳ đề nghị ở hội đàm Nomura quá khắt khe cho Nhật - Nhật phải rút hết quân ở Đông Dương, Trung Quốc và Mãn Châu. Ngày mồng 1 tháng 12, Hội đồng Thiên Hoàng, một lần nữa bỏ phiếu cho phép tuyên chiến với Hoa Kỳ , nếu Nhật thấy cần thiết. Tổng thống Roosevelt kêu gọi Nhật hoàng lần cuối cùng, nhưng thông điệp của ông không bao giờ tới nơi cả. Các phi cơ Hải quân Nhật bất thình lình tấn công Trân Châu Cảng sáng sớm chủ nhật ngày 7 tháng 12. 
             Hải quân Nhật đã thao diễn nồng nhiệt tấn công chớp nhoáng Trân Châu Cảng ở vịnh Kagoshima. Tấn công này theo quan điểm Nhật là một thắng lợi sáng chói, nhất là khi Hải Quân Hoa Kỳ không để ý tới những cảnh báo radar là các phi cơ Nhật sắp đến. Bảy tàu chiến, vô số tàu khác, và phân nữa số phi cơ Hoa Kỳ   tại Hawaii bị phá hũy hay thiệt hại nặng, thành vô dụng. Tấn công tương tự xảy ra ở Phi Luật Tân , Hồng Kông và Mã Lai. Ở Phi Luật Tân, phi cơ   Hoa Kỳ đang đậu ở sân bay, ngay hàng thẳng lối và ngoài khơi Singapore chiến hạm Prince of Wales và tuần dương hạm Repulse đang chạy không có phi cơ bảo vệ , bị đánh chìm thảm hại. Không còn hải quân Hoa Kỳ đe dọa, Nhật chuyễn quân mau lẹ vào toàn thể khu vực Thái Bình Dương. Hồng Kông thất thủ vào ngày Giáng sinh; Manila ngày 2 tháng giêng 1942, tuy Bataan chống giữ đến tháng 4 và Corregidor đến tháng 5. Bảo vệ Singapore  hướng về phía biển, vì rừng rậm ở sau lưng được xem là an toàn và bất khả xâm phạm. Nhưng Nhật đã huấn luyện quân lính ở rừng rậm Thái Lan và chiếm Singapore từ lảnh địa ngày 15 tháng hai. Nam Dương - East Indies Hòa Lan thất thủ đầu tháng 3 và Miến Điện cuối tháng 4. Trong vòng 6 tháng kế tiếp, Nhật sửa soạn kỷ càng tiến đánh Úc Châu. Nhưng nay các đường giao thông đã quá xa xôi và Hoa Kỳ đang xây dựng một cuộc phản công.
             Hải chiến Biển San Hô - Coral Sea , Nhật - Mỹ huề nhau , nhưng ảnh hưởng là Nhật không còn tấn công Úc được nữa. Trận hải chiến Midway tháng 6 năm 1942, thắng lợi nghiêng về phía Hải quân Hoa Kỳ, vì Hoa Kỳ đã được cảnh báo Nhật tấn công và đủ khả năng đánh chìm 4 hàng không mẩu hạm Nhật, làm tai hại nặng nề cho không quân Nhật. Hải quân Nhật bị hạ nhục lớn vì thất trận Midway , xoay chiều cuộc chiến , nhưng họ chỉ cho Thủ tướng Đông Điều biết thất bại, một tháng sau mà thôi. Trên Đất liền, lực lượng Đồng Minh dần dần tái chiếm New Guinea và sau nhiều chiến đấu cay đắng và kéo dài, Đồng Minh tái chiếm Guadacanal, tháng 2 năm 1943 . 
         Kinh tế Nhật thực hiện sản xuất phi phàm. Các công ty công nghệ đã thỏa mãn nhu cầu chế tạo dụng cụ máy móc nội địa, trước khi khởi đầu chiến tranh năm 1941. Bằng cách phân tán sản xuất thành những xưởng nhỏ , theo kiểu Nhật điển hình, và hoạt động 15 giờ một ngà , công nghệ chế tạo máy bay đã đủ khả năng trong thời chiến tranh làm ra 62 400 phi cơNhưng nguyên liệu đã khan hiếm . Khối “ Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á- Gresater East Asia Co- Prosperity Sphere ” , Á Châu cho Dân Á , dưới quyền Nhật lảnh đạo, là một cuộc kêu gọi tuyên truyền lớn dài , nhưng thực hiện thấp kém, ngắn ngũi, khi dân gian Đông Nam Á   và các xứ khác tìm thấy là lợi lộc tăng thêm cho Nhật; người Nhật điều hành công việc thiếu tế nhị và hách dịch. Cung cấp dầu lữa, cao su, thiếc, các vật liệu thiết yếu cho chiến tranh không chở đến Nhật đủ dùng. Hơn nữa , tàu ngầm Mỹ hoạt động tăng thêm , và dù có nhu cầu khẩn thiết cho chiến trường Châu Âu , hàng hải Nhật bị đánh đắm, mất mát thêm nhiều . ( tính đến khi dứt chiến tranh , Nhật đã mất đi 75 % thương thuyền , có người ước lượng đến 90 % ). Thực sự những ước lượng ban đầu   các nhà chiến lược hải quân Nhật đã tính toán gần đúng. Họ đã báo cho chánh phủ Nhật lúc mới khởi sự là chiến tranh có thể thắng , nếu chiến dịch thi hành mau lẹ , nhưng họ không bảo đảm sẽ duy trì được cố gắng quá 18 tháng. Một trong những thành quả của những thắng trận đầu tiên mau lẹ và quyết định là huyền thoại ưu thế da trắng - white supremacy nay đã nổ tan. Nhật làm nhục, cố tình khinh bỉ, ác độc nhẫn tâm tù binh bại trận Hà Lan, Anh, Mỹ trước mắt dân chúng địa phương , ở toàn thể vùng Thái Bình Dương. Sau vụ này và sau 3 năm tuyên truyền mảnh liệt chống thực dân thuộc địa, các chánh quyền thuộc địa cũ không còn khẳng định lại được nữa quyền lực của mình tại vùng này hay cả những nơi khác nữa, khi chiến tranh chấm dứt .
       Năm 1943, áp lực trên Nhật dần dần nặng nề thêm lên. Sau vài tháng đánh nhau , lực lượng Hoa Kỳ chiếm Saipan quần đảo Marianas tháng 7 năm 1944 , và từ đó máy bay đã có thể thả bom trên đất Nhật . Các nhà máy Tokyo và Nagoya bị dội bom khủng khiếp . Khi Mỹ chiếm Okinawa tháng 6 năm 1945 , cả hai bên đều tổn thất nặng , Mỹ dội bom tăng thêm nhiều . Hầu như mọi thành phố thị trấn lớn Nhật đều thiệt hại nặng vì bom lữa . Địch quân càng gần Nhật bao nhiêu thì kháng cự lại càng anh dũng bấy nhiêu . Rất ít lính Nhật bị bắt làm tù binh. Phi công Nhật kamikaze Thần Phong   bay đánh phá tàu chiến , nhắm   thả bom hay phóng ngư lôi thẳng vào mục tiêu và chết luôn khi chúng nổ .
          Ở hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Stalin đồng ý lã sẽ đánh Nhật 3 tháng   trước khi Đức bại trận. Nhật cố tâm đạt cho được những điều khoản tốt hơn là đầu hàng không điều kiện, mà các Đồng Minh Hội Nghị Casablanca đưa ra buộc Nhật. Tojo từ chức thủ tướng tháng 7 năm 1944 và thủ tướng kế tiếp, tướng Koiso Kuniaki từ chức tháng 4 năm 1945, và Suzuki Kantaro thay thế , khoan nhượng hơn , sẳn sàng đầu hàng với bất cứ điều kiện nào. Nhưng hội nghị Postdam tháng 7 năm 1945 nhất quyết loại bỏ “ chánh sách quân phiệt vô trách nhiệm ” đã hướng dẫn lầm lạc dân Nhật. Có bom nguyên tử trong tay , Đồng Minh cho Nhật biết qua trung gian Nga là Nhật phải đầu hàng không điều kiện hay bị phá tan tành. Đồng Minh đợi Nhật 10 ngày, rồi thả bom nguyên tử đầu tiên ở Hiroshima, đại bản doanh Nam Lộ Quân Nhật , ngày 6 tháng 8 năm 1945 . Quân đội Bộ binh Kwangtung ở Mãn Châu đã kiệt quệ, không còn sức tiếp viện các vùng khác và cũng không kháng cự nổi , cuộc tiến đánh của quân đội Nga. Nhiều đơn vị Hải Quân Nga tấn công Sakhalin và Kuriles.
        Ngày 10 tháng 3, nội các,   bế tắc ở vấn đề đầu hàng, thỉnh cầu Nhật hoàng Hirohito cho khuyên bảo . Nhật hoàng chịu đầu hàng, và cho Đồng Minh biết với “một điều kiện là duy trì tình trạng của Nhật hoàng”. Đồng Minh không chấp nhận một điều kiện nào cả, và khi Nhật hoàng can thiệp lần thứ hai, Nhật đầu hàng không điều kiện . Ngày 15 tháng 8, Nhật hoàng tuyên cáo đầu hàng với quốc dân Nhật, nói rằng dân Nhật phải chịu đựng “những gì không chịu đựng nổi ” và khẩn cầu dân chúng hợp sức tái thiết nước nhà. Dân Nhật và các cấp chỉ huy quân đội chịu nhận tình trạng, vì rỏ ràng là mọi kháng cự đều vô vọng . Một nhóm nhỏ lảnh tụ quân đội nổi loạn, xông vào hoàng cung, cố công bất thành chiếm đoạt bảng ghi âm   tuyên ngôn Nhật hoàng, không cho phát thanh. Bộ trưởng chiến tranh tự vận . Hoàng thân Higashikuni được cử làm thủ tướng để bảo đảm trật tự và vâng lời, dựa trên uy tín Nhật hoàng. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Nhật ký công cụ đầu hàng trên soái hạm U. S.S. Missouri ở vịnh Tokyo.
  
Trên phương diện  văn hóa, giữa hai thế chiến,  khác với biến chuyễn văn học  phe hướng theo văn hóa Pháp và Tây phương thắng thế hẳn, xã hội Việt  Nam , như Đào Duy Anh viết ở lời tựa sách “ Việt Nam Văn hóa Sử Cương”  ngày 14 tháng 8 năm  1938 :  bi kịch của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cỗ truyền văn hóa cũ với những điều mới lạ  của văn hóa Tây Phương. Cuối Thế Chiến Thứ Nhất (  1914-1918 ), tuy công nghiệp hóa ở một nước thuộc địa không thể quyết liệt như ở mẫu quốc, cũng đủ tập trung ở nhiều nơi, làm hiện hình những giai cấp mới  vô sản và trưởng giả. Hệ thống cũ Sĩ, Nông, Công, Thương bị đảo lộn, cá nhân được giải thoát  rÀng buộc khuôn khổ gia đình cũng như cọng đồng thôn xóm , nhưng thân phận con người không nhờ thế  mà trở nên  thoải mái hơn xưa.  Giai cấp trưởng giả hửu chủ  , điền chủ và tài chánh  mà tiêu biểu là Đảng Lập Hiến Nam Kỳ- Parti Constitutionnalist Cochinchinois do Bùi Quang Chiêu sáng lập  năm 1923 với  sự cọng tác chặt chẻ của  Nguyễn Phan Long, cả hai là địa chủ giàu có. Đảng này xưng tụng chủ nghĩa quốc gia cách chỉnh ,  không  đòi hỏi lập tức một Hiến Pháp  mà chỉ xin Pháp Quốc Hải Ngoại  dành cho  một số ghế  quan trọng trong Hội đồng Thuộc địa - Conseil colonial và nhiều phương tiện bành trướng ngành thương mãi. Trong lúc ấy,  hạng trung lưu  trí thức tiểu tư sản , thấm nhuần  tư tưởng Âu Tây, muốn kết hợp ( nếu có thể )  với toàn thể  những kẻ vô sản với mục đích  tranh đấu  ngay cho độc lập nước nhà ( Tân Việt Cách Mệnh Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng ). Song các phong trào này  thất bại, vì không có nguồn gốc trong quần chúng .  Trái lại những phong trào nhân dân được vận dụng ráo riết  trong khuôn khổ  Đông Dương Cọng Sản Đảng, dưới giả dạng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là “ Việt Minh ”  ( Lê Mộng Nguyên, Định Hướng số 54, mùa đông 2008 ). Tưởng cũng nên mở dấu ngoặc ở đây  về chánh phủ Trần Trọng Kim, thường bị những người Cọng sản , các tác giả các sách giáo khoa , các nhà nghiên cứu chuyên môn  ở miền Bắc  thời trước và sau năm 1975 , trực tiếp hay gián tiếp  gọi là bù nhìn , là việt gian, là tay sai của Nhật.  Sau ngày 9 tháng 3 năm 1945,  Nhật đảo chánh  chánh quyền thuộc địa Pháp, chánh phủ Trần Trọng Kim  được hoàng đế Bảo Đại thành lập, chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn, từ ngày 17 tháng 4 năm 1945 đến ngày 25 tháng 8 năm 1945. Theo Vũ Ngự Chiêu , đây là một “ tai nạn lịch sử  “  cả chính thủ tướng chánh phủ lẫn vua Bảo Đại đều bị đặt vào thế “ chẳng đặng đừng, được  khai sinh do nhu cầu  quân sự của Nhật ”.  Vượt qua mọi khó khăn , chỉ trong vòng 4 tháng,  Trần Trọng Kim và các cọng  sự viên của ông đã vạch ra những mục tiêu và chương trình hành động cụ thể và thực tế:  từ những việc làm  có tính cách tượng trưng  như đổi quốc hiệu thành Việt Nam, đổi quốc kỳ, duyệt lại quốc ca  …  đến cứu đói, thu hồi toàn vẹn lảnh thổ, bắt các  quan ở các tỉnh phải trực tiếp liên lạc với chánh phủ Việt Nam, cấm họ liên lạc trực tiếp với  người Nhật như họ vẫn liên lạc với người Pháp trước kia, Việt Nam hóa nền giáo dục, cải tổ thuế má tư pháp, vận động thanh niên sinh viên và  cả quần  chúng nói chung  tham gia sanh hoạt chánh trị, xã hội v.v…Ngay cả chỉ trích lớn là nội các Trần Trọng Kim không có bộ quốc phòng , vì thật ra Việt nam khi đó không còn quân đội, cả lính khố xanh phục vụ các quan Nam Triều như đã nói ở các phần trước và lính khố đỏ thuộc các trung đoàn  thuộc địa Pháp đã tan hàng ( bộ trưởng thanh niên  Phan Anh đã phải tổ chức  đoàn thanh niên bán quân sự ),  Lê Xuân Khoa đã khẳng định  là vua Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim  ( mọi tổng, bộ trưởng nội các ! )   không phải là “ bù nhìn của Nhật ”   và dù nền độc lập của  Việt Nam chưa  hoàn toàn,  vẫn là một thực tại không phải  là “Bánh vẽ ” , nhất là so sánh  với những điều kiện  của một quốc gia tự do  và viễn tượng  thống nhất mơ hồ, trong hiệp định sơ  bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946  mà chủ tịch Hồ Chí Minh  phải ký kết  với  đại diện Pháp Sainteny. ( Phạm Cao Dương, số 55,  Định Hướng,  mùa Xuân 2009 ) .

        Tính cách sáng suốt sử dụng bom nguyên tử  là đề tài tranh luận lâu dài. Thả bom  có thể rút ngắn chiến tranh. Tuy nhiên dân Á Châu  vẫn không quên là vỏ  khí  hủy diệt mới và kinh hải đã thả trên một dân tộc Á châu do một Tây Phương Thiên Chúa Giáo. Các vỏ khí qui ước từ búa đá mài nhọn đến giáo mác, đao kiếm , súng ống,  chỉ giết người một thế hệ mà thôi. Bom nguyên tử có uy lực  hủy diệt liền, giết chết nhiều người hơn mà lại còn  ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tương lai qua những tai hại bụi phóng xạ trên hệ thống sinh sản con người. Sau chiến tranh, thị trưởng thành phố Nagasaki, cũng như nhiều nơi khác ở Nhật, nói rỏ ràng là dân Nhật  bị sốc và choáng váng vì  bom nguyên tử , nhưng không oán giận dân Mỹ nhiều bằng oán giận, vỡ mộng về tình trạng  khó khăn giới quân nhân Nhật đưa tới cho họ và hoàn toàn  ghê tởm chiến tranh và sử dụng vỏ lực.            
            Chiến bại Nhật ở Thế Chiến Thứ Hai  đưa Nhật, lần đầu tiên trong lịch sử Nhật, bị xâm chiếm và chiếm đóng đất nước dân chúng kiêu hảnh hằng được dạy dỗ là thiêng liêng .  Cho nên bại trận thật là chấn thương, càng sâu xa thêm  khi chí  can đảm và lòng trung thành của sĩ quan và binh lính  của Quân đội Thiên hoàng lại phi thường. Rất ít sĩ quan  chịu bị bắt làm tù binh, thà chết theo kiểu samurai truyền thống  hơn là bị bắt. Vì lựa chọn  chết hơn là đầu hàng  được tăng cường mạnh mẽ suốt thời kỳ chinh chiến theo lệnh của Bộ Chỉ Huy Tối Cao, cho nên Nhật đã phải phái  đến nhiều chiến trường  các hoàng tử và gia đình  Thiên Hoàng cho quân sĩ biết tinh cách chính thức của những lệnh đầu hàng.
            Dân chúng Nhật lo âu cực kỳ về ý nghĩa  cuộc chiếm đóng.  Tin đồn đại loan truyền sẽ có nhiều hảm hiếp và cướp bóc, hôi  của . Rất nhiều đàn bà, phụ nữ bỏ thành thị  về quê.  Cho nên dân chúng  ngạc nhiên khoan khoái khi thấy lính  Mỹ- GI  và một số ít lính Anh, Úc và Tân Tây Lan chiếm đóng, không những đứng đắn mà còn cư xử thân thiện nữa.  Khi thân thiện tăng thêm dần, chức quyền cả hai bên trở nên phần nào  hốt hoảng , khi các quán bán rượu-bar  và ổ điếm  mọc lên như nấm để  phục vụ quân đội chiếm đóng .Tổng quát có thể nói  rằng chiếm đóng  Nhật ttrong 7 năm , từ 1945  đến 1952 là  một  công cuộc sửa soạn tốt đẹp và  thực thi hay nhất  của lịch sử chiến tranh thế giới.  Tâm trạng và phản ứng của dân Nhật  từ các giai đoạn sợ hải, chuyễn qua an tâm, biết ơn, buồn tẻ  và cuối cùng oán giận nhẹ nhàng và đoán trước được. Tướng chỉ huy quân đội Đồng Minh chiếm đóng là  Douglas MacArthur.  Hình thức theo kiểu một shogun  Nhật, cầu kỳ chi tiết vặt  lúc thi hành  nhiệm vụ, nhưng  tôn quí và  xa cách.  Ý thức lịch sử và  số mệnh của MacArthur  có khi tỏ ra  khoa trương  và  tự phụ  đối vởi  những  cảm tính bình đẳng của dân Hoa Kỳ ,nhưng chính những đức tính này phối hợp  cùng tính vô tư ngay thẳng  cơ bản của ông , ấn tượng lớn trên dân Nhật  và  giúp họ  tái tạo  một cảm giác tự tín cần thiết .
         Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt  là một  thời kỳ khổ cực và khó khăn cho nước Nhật. Tàn phá khắp nơi và thiếu thốn thực phẩm. Dân thành thị chất đầy các chuyến xe lữa tràn về đồng quê,  cố đổi chác vài vật sở hửu lấy thực phẩm.  Số người thất nghiệp lên đến 13 triệu. Nhật hồi hương thổi phồng dân số  cần nuôi ăn .  Một số lớn binh sĩ giải ngũ , không được nhìn  nhận là anh hùng,  tự thấy không ai ưa thích mình,  và bị khinh bỉ lúc bại trận.  Một số đông  bị thương tích và ăn mặc rách rưới, đi ăn xin dọc các đường phố , mắt nhìn các cô gái Nhật khoát tay,  ôm vai  lính chiếm đóng . Ngay cả những kẻ nhận được thực phẩm  cũng bị bắt  vì buôn bán chợ đen . Dần dần, viện trợ Hoa Kỳ và  dân Nhật làm việc nhọc nhằn,  cải thiện tình trạng, tuy rằng cần vài thời gian công nghệ Nhật  mới  cho thấy sản xuất đáng kể .
        Chỉ thị từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn  là Nhật phải phi quân sự và  dân chủ hóa.  Phi quân sự thi hành  êm ả và hoàn thành nhanh chóng. Quân lính giải ngũ và  cơ sở quân sự tháo gỡ. Xét xử chiến tranh và  thanh trừng thực thi  ở nhiều mức độ,  từ năm 1946 đến năm 1948 .  25 quân nhân bị buộc  tội ác chiến tranh chánh  và 7,   kể cả tướng Tojo-Đông Điều bị treo cỗ. Những người  còn lại bị tù chung thân.  Hoàng thân Konoe ,  cựu thủ tướng  thà tự tử hơn là vào  trại tù Sugamo.  5000 tội phạm chiến tranh  bị xét xử ở các nước ngoài Nhật và 900 bị xử tử. 200 000 bị thanh trừng  khỏi công chứic , thư lại căn cứ trên căn bản loại công việc họ làm hơn là bất cứ lý do nào họ có trách nhiệm . Trên  tiến trình dân chủ hóa,  câu hỏi đầu tiên là vị trí  Nhật hoàng. MacArthur thi hành  quyết định thông minh , đã được  cấp cao  hơn của Hoa Kỳ đồng ý, không buộc tội Nhật hoàng là một tội nhân chiến tranh,  dù có nhiều kêu gào nên xử sự như thế,  từ các tay nóng nảy ở Mỹ và giữa các đồng minh . Nhật hoàng được giữ lại vị trí như thể là một tượng trưng cho thống nhất quốc gia  và như thể là đỉnh chủ yếu của vòm cầu xã hộ , hầu bảo tồn  nước Nhật khỏi hổn độn và phân  hủy. Hiến Pháp mới thông qua năm 1946 và thực thi tháng 5 năm1947 qui định minh bạch là   chủ quyền ở trong tay quốc dân Nhật và Nhật hoàng  là một vua lập hiến - Constitutional monarch . Nhiều bảo đảm ghi trong Hiến Pháp  ghi nhận  không những  cho tự do cá nhân , cư trú và tôn giáo  mà còn ở học đường , hàn lâm. Một phần tiến trình dân chủ hóa là chánh sách các chức quyền chiếm đóng  khuyến khích phong trào nghiệp đoàn . Luật lệ lao động giữa các năm 1945 đến năm 1947 cấp quyền tổ chức nghiệp đoàn, thương lượng công cọng và quyền đình công.  Trong 1 năm, số người gia nhập nghiệp đoàn tăng từ 1 triệu lên 4.5 triệu. Các lảnh tụ lao động Mác xít hay Cọng Sản ra khỏi tù chế độ quân phiệt bắt giam, khởi sự nắm giữ  các vị trí lảnh đạo nghiệp đoàn, nhiều đến nổi  các chức quyền lo ngại  và sửa đổi lảnh vực lao động  sau năm 1948 .  Ở thôn quê,  cải cách điền địa là  chương trình dân chủ hóa thành công nhất .  Một luật chống độc quyền nhắm trực tiếp vào các đế quốc thương mãi của zaibatsu.  83 tổ hợp  công ty bị giải tán  và các tài sản  gia đình bị tịch thu bằng thuế  trên tư bản.  Ở ngành giáo dục,  học đường bắt buộc  tăng từ 6 đến 9 năm , và các sách giáo khoa  mới  nhấn mạnh đến  thể chế dân chủ  thay vì những khuynh hướng  độc đoán. Dấu khắc ý kiến Mỹ  in đậm trên các cải cách giáo dục và trên những tài liệu quan trọng tỉ như Hiến Pháp; vang vọng trong trí người Nhật, vì họ  cũng đang tìm kiếm một lý tưởng khác cho Nhật , thay thế  “ tổ chức chánh trị quốc gia - national politykokutai , những ngày trước chiến tranh.
    Một thay đổi tình hình quốc tế  nhưng năm 1948- 50  ảnh hưởng nhiều đến   liên hệ Mỹ- Nhật . Năm 1948,  Mãn Châu lọt vào tay  Cọng Sản Tàu  và năm sau  Tưởng Giới Thạch bị bó buộc rời lục địa và thiết lập chánh phủ ở Đài Loan .  Năm 1950  Liên Hiệp Quốc với quân Mỹ tiền phong, đánh nhau với Bắc Triều Tiên ( Bắc Hàn, Bắc Cao Ly )  và Trung Cọng . Theo ánh sáng thực tế chánh trị thế giới, vài  sửa đổi quan trọng  xảy ra ở chánh sách Mỹ. Những chánh phủ Nhật kế tiếp nhau  xem những sửa đổi này là cần thiết, nhưng nhiều dân Nhật  lại xem đó là  cơ hội chủ nghĩa trắng trợn.  Xây đắp một phẩn nộ chống Hoa Kỳ,  bị phe tả Nhật khai thác  và vẫn còn tồn tại  ở những mức độ khác nhau từ đó đến bây giờ .
    Biến chuyễn tình hình   làm cho một Hiệp Ước  hòa bình với Nhật trở nên thèm muốn  qua những kênh  của Ủy Ban  Viễn Đông -Far Eastern Commission ,  Stalin và Tưởng Giới Thạch phản đối.  Cuối  tháng chín năm 1951, đại điện  52 nước họp tại Cựu Kim Sơn - San Francisco ký kết một  hiệp Ước Hòa Bình, mọi điều khoản chánh đã an bài.  Mọi quốc gia đều ký, ngoại trừ  Nga , Ấn Độ và Trung Cọng.  Nhật từ chối  đòi hỏi Triều Tiên ( Cao Ly ), Formosa( Đài Loan ), các đảo Pescadores, Kuriles, Nam Sakhalin và các đảo Thái Bình Dương ủy nhiệm  cho Nhật trước đây. Thủ tướng Nhật  Yoshida Shigeru  thỏa mãn, xem hiệp ước là “ công bằng và khoan dung - fair and generous ”   và nói rỏ là Nhật  tự xếp hàng chung với  thế giới không cọng sản. Đồng thời với ký kết Hiệp Ước Hòa Bình , Nhật và Hoa Kỳ  cũng cùng nhau kết thúc ký Hiệp Uớc An Ninh - Security  Treaty, trong đó để cho lực lượng Hoa Kỳ đóng  trong và quanh Nhật,  hầu  bảo vệ an ninh  trong và ngoài nước Nhật. Một thỏa hiệp riêng biệt tái lập ngoại giao với  Nga,  được ký kết năm 1956  và ở thời điểm này, Nhật gia nhập Liên Hiệp Quốc.                                    
         Kinh tế Nhật tăng trưởng kỳ diệu  vào thời kỳ hậu chiến, một khi vượt qua những trở ngại ban đầu. Vào thời Minh Trị Thiên hoàng,  tăng trưởng kinh tế  dựa vào phối hợp chánh phủ và các xí nghiệp tư. Viện trợ Hoa Kỳ,  cả công lẫn tư có tầm quan trọng quyết định . Các ngân hàng Nhật cho vay dễ dãi thương mãi, chánh phủ Nhật  cống hiến khích lệ thuế khóa, trừ bớt  mức khấu hao (chiết khấu ) cao. Tổng sác xuất tăng trưởng kinh tế đạt trung bình 10% mỗi năm từ năm  1950 đến năm  1965 , cao nhất là  12.1 năm 1963 và  thấp nhất là 7.5 năm 1965.  Trong khi con số  trung bình ở Đức là 6.1 % , Pháp 5.3 % , Anh 2.4 % và Hoa Kỳ 2.3 % .  Tổng lợi tức quốc gia Nhật  chỉ là 1.3 tỉ  đô la Mỹ năm 1946,  lên 15.1 tỉ năm 1951 , 51.9 năm  1962 và 176  tỉ năm 1968 .
       Thịnh vượng liên tục  Nhật làm nghiêng chánh trị về phe bảo thủ.  Mọi chánh phủ từ thời chiến tranh đến năm  1993 đều thuộc phe bảo thủ,  ngoại trừ thủ tướng  Katayama Tetsy các năm 1947- 48 , Xã hội  trên phương diện chánh trị và Thiên chúa giáo.  Yoshida làm thủ tướng lâu nhất  1946- 47 và  1948- 54 , và là nhịp cầu giữa thời kỳ chiếm đóng và  thời độc lập. Yoshida  kiểm soát các  hoạt động  phá hoại, tái cơ cấu các zaibatsu, và phục hồi lực lựợng cảnh sát, một biện pháp  để  tảp trung  kiểm soát trung ương.  Biện pháp  hướng về  tăng cường quyền trung ương kiểm soát, bớt quyền tự trị địa phương,  được đối thủ và kế nhiệm  Yoshida  là  Hatoyama Ichiro (  1954 - 56 )  tiếp tục, đặc biệt ở lảnh vực gíáo dục.  Ông cũng đã  tái lập bang giao với Nga,  tăng thể tích thương mãi với Trung Cọng  và hai cánh hửu chánh trị  được thống nhất thành  Đảng Dân  chủ tự Do - Liberal  Democratic Party . Thủ tướng  Ikeda Hayato ( 1960 - 64 ) chấp nhận hình thức  ngọai giao ông gọi  là “ tư thế thấp -  low posture “  và tập trung nổ lực  vào tăng trưởng kinh tế Nhật lớn hơn nữa. Kế tiếp  Ikeda là  Sato Eisaku, thành công nhờ đi gặp tổng thống Nixon tháng 9 năm 1969  và bảo đảm Mỹ thỏa hiệp  hoàn trả Okinawa về cho Nhật năm 1972. Đảng Tự Do Dân chủ của ông thắng Đảng Xã hội -Socialist Party  tháng giêng năm 1970.      

 
    12-   Tình trạng  Nhật cho đến năm  1994  về kinh tế , ngoại giao và đời sống chánh trị
 
     Trên ngọn đồi cao hải cảng Nagasaki, một ngôi nhà nhỏ xinh xắn  có vườn kiểu Nhật , xây cất cuối thế kỷ thứ 19  cho một cố vấn công nghệ người Anh Thomas B. Glover, bà Nhật yêu qúi trở thành  nhân vật nữ chánh  của thảm kịch  Bà Bướm Hoa - Madame Butterflycủa Puccini . Từ điểm lợi thế này , nối liền Đông Phương và Tây Phương , một phía có thể nhìn xuống tiểu đảo cũ Deshima,  nay  bao quanh bằng đất liền  nơi các thương gia Hà Lan bị giam hảm từ năm 1641 . Phía kia là cảnh quan tinh hoa thế kỷ thứ 20 , một khu đóng tàu đồ sộ áp dụng kỷ thuật mới nhất.  Những siêu tàu chở dầu khổng lồ kính thước to lớn đến nổi, phần mủi tàu và phần đuôi tàu  phải  phóng hạ riêng biệt  và hàn lại nhau dưới nước.
    
      Kỳ diệu kinh tế
    
      Đóng tàu chỉ là một thành phần tiên  tiến công nghệ uy vũ  của Nhật  từ cuối Thế Chiến Thứ Hai đến  năm 1994 ( thật sự  từ các năm 1992-93  tổng lợi tức quốc gia Nhật điều chỉnh lạm phát đã giảm, chỉ còn tăng 1-2 %  và giữa các năm 1995- 2000 , có lúc mức tăng trưởng xuống âm , tệ nhất  vào các năm 2008- 2009 ( xem đồ biểu), thường được  gọi là “ kỳ diệu kinh tế - economic miracle ”.  Dân Nhật có thể biện minh kiêu hảnh về những gì họ đã thực hiện, nhưng vài người Nhật không lý gì đến những từ ( ngữ )  này  vì thành quả  đòi hỏi  làm việc năng nề khó nhọc, liên tục tập trung suy tư và nhiều hy sinh.  Tuy nhiên phát triễn kinh tế  là thừa tố có ý nghĩa nhất, ảnh hưởng sâu đậm đến chánh trị và xã hội Nhật.
        Lẽ dĩ nhiên, lao động Nhật  vượt quá  tầm đóng tàu thủy và tiến mau  đến những giai đoạn  sản xuất cận đại.  Dù thời này vẫn còn nông nghiệp, nhưng Nhật đã tiến xa khỏi  giao đoạn sơ đẳng là nông nghiệp. Dù vẫn  sản xuất thép , đóng tàu thủy và chế tạo máy móc nặng, Nhật cũng đã tiến  quá  khu vực thứ cấp  là chế tạo đến giai đoạn thứ ba- tam cấp, thường được mô tả,   tuy không thích hợp cho lắm,  là khu vực dịch vụ - services hay thông tin - information.  Chúng ta đều biết sản xuất cận đại này  tùy thuộc nhiều vào điện tử - electronics,  gồm có ti vi,  computer , công nghệ robot  và  vô số phương tiện mới truyền thông - communication và kiểm soát .   Nhật là một trong những lảnh đạo thế giới ở những lảnh vực mới này.
          Khu vực nông  nghiệp Nhật dùng nhiều nhân công, khu vực thứ cấp dùng nhiều tư bản và khu vực tam cấp  dùng nhiều tri thức- knowledge intensive.   Cũng còn cần dùng nhiều lao động ở khu vực thứ  ba, nhưng  một thứ lao động khác  đòi hỏi  sửa soạn lớn lao ở ngành giáo dục. Năm 1987 là một cột mốc lịch sử kinh tế Nhật vì năm đó ,  tổng lợi tức mỗi đầu người  - per capita GNP , lần đầu tiên trội hơn Hoa Kỳ .  Năm  1986 , lợi tức mỗi người Nhât , là 16 330 đô la Mỹ,  mỗi dân Hoa Kỳ là 17464 . Nhưng năm 1987 , là 19 642 cho Nhật và 18 403 cho Hoa Kỳ. Động  cơ phát triễn này là công nghệ Nhật,  theo nghĩa cả hai: công ty tỗ hợp và  cá nhân.
        Có công ăn việc làm suốt đời - lifetime employment  cho công nhân  chuyên nghiệp  và  nhân viên ban quản trị. Nhân công  nhận thức là  tốt cho quyền lợi của họ khi cố làm cho công ty , hảng mình thịnh vượng.  Các  quản tri, chóp bu phải  cố giữ,  không phải sa thải nhân công, dù trong lúc  công việc hảng  đình trệ, Hệ thống phong kiến, hiểu theo kiểu Tây Phương, thiết lập căn cứ  trên  cá nhân , gia đình  và trung thành bè đảng - clan loyalty .  Công ty có bài hát riêng, đồng phục riêng ,  ban thưởng riêng  và sinh hoạt xã hội riêng cho công ty.  Đồng nghiệp cùng một công ty  thường  cùng đến cùng một quán rượu hay tiệm ăn , nhậu nhẹt cùng nhau. Nói một cách khác, chính công ty là đời sống của họ.
         Một đặc điểm khác biệt   của công nghệ Nhật là sử dụng nhiều  nhà thầu phụ - subcontractors , những công ty nhỏ chế tạo một bộ phận  của thành sản. Cơ cấu nghiệp vụ  tên gọi là keiretsu, thoát thai từ   các gia đình  trước cận đại và công nghệ thôn xóm, làng xã, tăng mảnh liệt  dưới áp lực cung cấp cho quân sự thời thế Chiến Thứ Hai. Thủ tục này cũng  dược Tây Phương  biết rỏ  đặc biệt ở ngành ô tô , nhưng phát triễn ở Nhật cao độ hơn .
          Một đặc điểm khác đáng nêu ra là tính chất lạ lùng của Nghiệp đoàn Nhật .   Mỗi công ty hay mỗi nơi hoạt động đều có  tổ chức nghiệp đoàn ,  chứ không phân phối theo ngành thương mãi như Tây Phương.  Họ  mặc cả  tập thể với ban quản lý.  Ít khi có đình công- strike và  ngưng việc - work stoppage.   Tuy nhiên, vào thập niên 1970, có  những cuộc đình công ngắn lan rộng  xảy ra đòi tăng lương,  đặc biệt ở ngành vận tải , chuyên chở . Trong một năm, ảnh hưởng đến 38 triệu  người  đi làm việc bằng vé tháng - commuter .
           Đặc điểm thứ tư  của nền kinh tế Nhật, khác với các nước đã mở mang khác là  sác xuất tiết kiệm- rate of saving cao. Tỉ lệ tiết kiệm gia đình  ở Nhật, từ năm 1961 đến năm 1979 là giữa 18.2% và 22.1% , trong khi ở Hoa Kỳ chỉ là 8.8% đến 8.8 % . Năm 1988  con số tiết kiệm hạ thấp chỉ còn  14.8% , nhưng cũng còn cao hơn ở Pháp, một xứ tiết kiệm dân gian  nổi tiếng,  là 12.1 % và 6.6 ở Hoa Kỳ.   Năm 1991,  chánh phủ Nhật báo cáo  là sác xuất tỉ lệ tiết kiệm  xuống mức kỷ lục thấp nhất là 6.5 % , cho thấy  xoi mòn nền tảng  phát triễn kinh tế đã kéo dài  từ lâu .
              Đặc điểm  then chốt thứ năm của ngành công nghệ Nhật là  sự hợp tác  giữa chánh phủ , quản lý  và lao động .   Đây là một nhu cầu khẩn thiết  tái xây dựng Nhật Bổn sau thế chiến Thứ Hai, vẫn còn tiếp diễn tới nay.   Hợp tác  này có thể là một hình thức yêu nước - patriotism và  bày tỏ  tinh thần đoàn kết - solidarity , kể từ khi hình thức quân phiệt mất hết uy tín.  Khi có một yếu tố bên ngoài  đe dọa  Nhật,  dù  nhẹ nhàng đi nữa,  chánh phủ , quản lý công ty,  lao động  thắt chặc lại hàng ngũ  để đối đầu ngoại bang , thỏa thuận ngầm ,  để ra một bên,  cạnh tranh và bất đồng nhau, sẽ giải quyết sau. Thành công lớn nhưng không phải duy nhất, tuy gây ra nhiều phản nộ ở ngoại quốc, là một cánh tay của chánh phủ  Bộ Công nghệ và Thương mãi Quốc tế  Ministry  of Internatioanal  Trade and Industry, biết tên theo tiếng Nhật hay tiếng Anh là MITI.  Bộ này đóng  vai trò khảo cứu , phát triễn và xác định những thị trường quốc tế tiềm thế xuất cảng . Nay còn  tham gia đề cao cả nhập cảng nữa .  MITI  cũng còn khuyến cáo  các ngân hàng chánh phủ  cấp tư bản hiểm nguy - venture capital  vài công nghệ được xem là  sinh tử cho  quyền lợi quốc gia Nhật ở một thời điểm nào đó.  MITI hửu hiệu nhất khi bảo đảm được nhất trí - đồng thuận  giữa chánh phủ, lao động và quản lý, trên  những vấn đề  và hướng chỉ đạo  phát triễn công nghệ.   
        Vai trò kỷ thuật cao cấp - cao kỷ .
          Cao kỷ không phải là xa xỉ phẩm mà là một thiết yếu cho Nhật. Đối với một xứ đảo tài nguyên thiên nhiên giới hạn , hầu  sống còn  trên thế giới hiện tại,  thật là bắt buộc ngành công nghệ chế tạo nước nhà ,  phải có  một thừa tố giá trị công thêm rất cao. Nghĩa là mỗi ngày mỗi nhiều thêm khéo léo  chuyên môn, tri thức hiểu biết và phức tạp  phải cọng vào càng ít nguyên liệu càng hay,  lúc làm ra sản phẩm  nếu muốn bán sản phẩm  lợi nhiều.  Lợi này  cần có để trả tiền  mua  các nguyên liệu thô hiếm có  và để duy trì mức sống tiêu chuẩn  xã hội Nhật mới đã  trở nên quen thuộc .  Đó là ca- trường hợp của  Vương quốc Anh thế kỷ thứ 19 và 20  và lúc này là  của Nhật Bổn,  mức độ còn cao hơn.  Phân biệt giữa các khu vực của các nền kinh tế  Nhật năm 1988  như sau : sơ cấp - nông nghiệp  2.3 %  tổng số nền kinh tế,  thứ cấp - công nghệ chế tạo 34.9% ,  tam cấp- dịch vụ   với thừ a tố  giá trị cọng thêm cao nhất 62.8 % .  Giai đoạn cuối này  đưa tới tên gọi là  “ xã hội hậu công nghệ - post industrial society ”.  Chính ở lảnh vực cao kỷ , gồm  các sản phẩm ô tô và điện tử ( máy ti vi,  các máy ghi âm viđêôcassette, robôt  và computer )  Nhật, thật là trác việt, ưu tú.
        Cú sốc dầu lữa
        Không thể nói rằng là kinh tế Nhật tiên tiến không đứt quảng.  Nhật không có nguồn  dầu lữa nội địa , và cần nhập cảng hoàn toàn từ ngoại quốc .  Suốt thời kỳ cú sốc dầu lữa 1973- 74,   Nhật nhận 83% cung cấp dầu lữa từ các nước Ả Rập và Iran . Tháng 11 năm 1973 , các nước Ả Rập áp lực Nhật  phải cắt đứt ngoại giao  với Israel và chấp thuận  cung cấp vỏ khí cho các nước Ả Rập.   Đổi lại, các nước này sẽ  tuyên bố Nhật là “ nước thân thiện “  và nhận cung cấp không ngừng dầu lữa. Nhật từ chối .  Chánh phủ đã thi hành một dự án chống lạm phát, bớt tín dụng, thiết lập luật lệ  dầu lữa khẩn cấp, và đông lạnh giá gạo. Ngân sách năm 1974  tuy gọi là “ ngân sách khắc khổ ” vẫn cao hơn những năm trước.  Lạm phát  19 % là một vấn đề  khó giải quyết.  Năm 1974 cũng là năm thâm thủng cán cân thanh toán ( tiền tệ ) vì giá dầu lữa cao. Từ năm 1976 đến 1978, tình trạng cải thiện rỏ rệt. Lạm phát chỉ còn 3.5 %.  Cán cân thương mãi quá nghiêng về Nhật đem lại gây cấn với Hoa Kỳ. Thủ tướng Fukuda  hứa với tổng thống Carter  giữa năm 1978,  sẽ cố giảm thặng dư ngoại thương và  giảm bớt xuất cảng sang Hoa Kỳ. Nhưng húa hẹn không thực hiện. Thiếu dầu lữa là vấn đề liên tục , gây ra thâm thủng cán cân tiền tệ  một lần nữa vào năm 1979. Có nhiều dự án  mở rộng  sử dụng năng lượng nguyên tử , ngoài  21 nhà máy điện nguyên tử hoạt động năm 1980.  11 đơn vị mới đang được xây cất  và  thêm 3 nhà máy được dự trù , tăng số tỉ điện nguyên tử lên thêm 2/3 .  Điện nguyên tử ở Nhật  năm 1990   gần gấp đôi điện nguyên tử ở Anh  và bằng 1/3 điện nguyên tử ở Hoa Kỳ. 

          Xuất cảng xe hơi
            Từ năm 1955 , hảng xe hơi Đức Volkswagen là hảng bán nhiều nhất xe nhập cảng vào Hoa Kỳ . Xe Datsun Nhật  khởi sự bán ở Hoa Kỳ năm 1960  và năm 1975  đã bán nhiều hơn Volkswagen. Năm 1976 , xuất cảng xe hơi Nhật  trên mọi thị trường thế giới  là cao nhất, kế theo  sau xa là xe hơi Pháp .  Năm đó, 62 % xe Nhật bán ở Hoa Kỳ sản xuất ở Nhật .  Bộ Thương mãi Hoa Kỳ  quy  sự yêu chuộng xe Nhật  là xe Nhật bán giá rẽ hơn , nổi tiếng về phẩm  giá xe,  và mạng lưới  bán xe rất hửu hiệu .  Ở thời điểm này,  sản xuất ô tô Hoa Kỳ lớn hơn Nhật , nhưng đến giữa năm 1980,  Nhật trở thành nước sản xuất  xe hơi và xe vận tải - cam nhông lớn nhất thế giới .                          
            Không có gì đáng ngạc nhiên là Hoa Kỳ phản ứng .  Chủ tịch Nghiệp doàn  Công Nhân Ô tô Thống nhất - United Automobile Workers  Douglas Fraser nói  hành động của Toyota và Nissan là “ bạo ngược” , xuất cảng không chỉ là ô tô  mà còn là thất nghiệp sang Hoa Kỳ.  Vì năm 1980, 200 000  thợ thuyền ô tô Hoa Kỳ thất nghiệp.  Fraser đi Nhật, thuyết phục  các hảng Nhật thiết lập sản xuất xe hơi  ở Hoa Kỳ, giới hạn số xe hơi xuất cảng, nếu không sẽ bị hiểm nguy các rào cản  luật lệ  bảo hộ mậu dịch.  Honda tuyên bố  lập xưởng ráp xe ở bang Ohio. Toyota và Nissan dự tính  những di chuyễn tương tự .  Để tránh luật lệ bảo vệ mậu dịch Hoa Kỳ , chánh phủ Nhật  tuyên bố tháng  6 năm 1981  là sẽ tự nguyện  giới hạn xuất cảng xe sang Hoa Kỳ. Dự tính lập những  công ty chung  chế tạo ô tô  thành thực tế: Isuzu/ General Motors ở Nhật năm 1982,  Toyota / General Motors ở California   năm 1983, Mitsubishi/Chrysler  ở Illinois năm 1985, Nissan/Ford ở Ohio năm 1988.
             Xuất cảng đồ điện tử
             NipponTelephone andTelegraph ( NTT) và International Business Machines ( IBM )  thỏa thuận năm 1985  lập một mạng lưới computer ngay ở Nhật. Năm 1989, Toshiba  lập nhà máy làm computer đầu tiên ở Âu Châu tại Regensburg, Đức . Công ty điện tử lớn nhất ở Nhật chấp nhận  cho các hảng Hoa Kỳ và các nước khác làm bán dẫn - semiconductors   thông báo trước về  nhu cầu Nhật sắp tới , mục đích tăng 20 % về xuất cảng ngoại sang Nhật món đồ điện tử mới này , nhưng hoài nghi về giá trị thỏa thuận vẫn tồn tại.  Đến năm 1994 , phần ngoại quốc ở thị trường Nhật  là 14.4 % và không gia tăng . Tháng 6 năm 1992, MITI , trong một thế chuyễn động bất thường tuyên bố là  cống hiến cho bất cứ ai khỏi trả phí  thế hệ thứ 5 phần mềm ( nhu liệu )- software. Dự án thế hệ thứ 5  bắt đầu từ năm 1982  trên một cố gắng   sản xuất computer với khả năng lý luận, cho nên “ thông minh nhân tạo - artificial intelligence ” của nó  sẽ thực hiện được nhưng nhiệm vụ tỉ như  chẩn bịnh ,  phân tích các vụ kiện  cáo  và thông hiểu ngôn ngữ . Dự án không đạt các kỳ vọng và đã bị hủy bỏ chánh thức . Tuy vậy,  dự án thứ 5  có nhiều ảnh hưởng  lý thú  trên lịch sử computer - điện ( tử) toán. Dự án đã huấn luyện  hàng trăm kỷ sư Nhật về khoa học computer tiên tiến . Chẳng hạn có khả năng thực hiện vài chức năng lý luận  cao tốc  nhờ sự giúp đở đến 1000 vi xử lý -processors song song.  Nó còn báo động cho các kỷ sư Hoa Kỳ  là sẽ bị hiểm nguy , bị bỏ  theo sau xa về phát triễn.  Một tổ hợp các công ty Hoa Kỳ  được thành lập để  hợp tác về khảo cứu căn bản.  Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ khởi sự  một dự án  rộng rải, họa kiểu những hệ thống thông minh, kể luôn cả một hệ thống  điều khiển xe tăng không người lái.
             Tốc độ khảo cứu  tuồng như  gây ra một ưu điểm kiểu răng cưa trong việc phát triễn  ti vi định nghĩa cao - high definition television ( HDTV ) .  Ngân  sách khảo cứu chánh quyền Bush  cho HDTV năm 1990 là 30 triệu đô la Mỹ,  đối với Nhật là 1 tỉ đô la . Năm 1991, tổng thống Bush  cắt hết ngân sách khảo cứu này.  20 năm  khảo cứu giúp Nhật  sản xuất năm 1994 ( ? )  hệ thống  tương suy - analog system sẳn sàng bán ra thị trường.  May mắn  là công ty Mỹ và ngoại quốc khác   tiếp tục  các con đường khảo cứu riêng cho mình  và chuyễn sang kỷ thuật  ti vi kỷ thuật số - digital television technology ,  một con đường Nhật không lựa chọn, làm cho kỷ thuật tương suy của Nhật lỗi thời …   
            (  Phần lớn liên hệ đến Nhật đều trích dẫn theo sách “ Nhật Bổn “ xuất bản lần thứ ba năm 1994,  của giáo sư sử học Tàu và Nhật W. Scott  Morton ,  viện đại học Seton Hall )  
              ( Irvine,  Cali ngày 10 tháng 12 năm 2010 )


Trở lại Trang Khoa Học
 
  Số lượt bạn đọc kể từ 01/9/2009 295676 visitors (1201742 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=