TRUNG HỌC NNG LM SC CẦN THƠ
  Giáo dục ở Đài Loan
 
Lên mạng ngày 22/9/2011

Những gì đã giúp Đài Loan phát triễn vượt bực ngày nay: đại học cấp tiến

G S Tôn Thất Trình
 
          Cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 , cả hai nước là Nam Hàn và Đài Loan Cộng Hòa Trung Hoa – Quốc Dân Đảng, đều chỉ mới phát triễn ở mức Cộng Hòa Việt Nam lúc đó, lợi tức trung bình mỗi đầu người tương tự nhau. Nhưng nay cả hai đều đuổi kịp các nước tiên tiến, trong khi Việt Nam thống nhất còn lẹt đẹt ở phạm vi các nước chậm tiến, đang mở mang. Sau đây là vài đặc điểm giúp Đài Loan phát triễn, chiếu theo quan điểm của Global Media Inc., đăng tải ở số các tháng 9- 10/2011 ở nguyệt san “Ngọai Giao- Foreign Affairs, có lẽ Việt Nam nên biết rỏ hơn chăng, sau phần Đài Loan trình bày ở phần 5, bài Lịch sử Văn hóa Trung Quốc ?
 
          Không chỉ là một đảo nhỏ
           Là một đảo diện tích chỉ trên 13 000 km2  ( nhắc lại là châu thổ sông Cửu Long trên 39 567 km2 ba lần lớn hơn Đài Loan và Đài Loan còn nhỏ hơn cả châu thổ sông Hồng 14 685km2 nữa ), kích thước địa lý che dấu tầm quan trọng ảnh hưởng kinh tế và chánh trị Đài Loan ở Á Châu và trên thế giới còn lại. Cùng với Singapore, Hàn Quốc ( Nam Hàn ), Hồng Kông, Đài Loan được liệt vào Các Cọp ( Hổ ) Á Châu, gây ấn tượng mạnh mẽ tòan cầu, nhờ công nghệ hóa mau lẹ trong thời gian ngắn ngũi, ít hơn một thế hệ, ngay sau Thế Chiến Thứ Hai tàn phá nặng nề của.
       Tiến lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, lợi tức mỗi đầu người chỉ là 170 đô la Mỹ vào thập niên 1960, Đài Loan nhảy vọt từ hạng các xứ kém mở mang Phi Châu,  xông vào lò nóng bỏng kỷ thuật tiền phong thế kỷ thứ 21. Nay Đàì Loan huênh hoang đạt lợi tức mỗi đầu người per- capita GDP trên 35 000 đô la Mỹ, gấp 30 lần lợi tức mỗi đầu người Việt Nam hiện nay, và 9- 10 lần hơn con số lục địa Trung Quốc.       
         Vì lý do tranh chấp địa vị chánh trị, Đài Bắc thủ phủ ( thủ đô ) Đài Loan, không khác nhiều chánh phủ thế giới, đã phải dung hòa chiến lược thương mãi quốc tế của mình kỹ càng hơn với chánh sách ngọai giao hầu bảo đảm là các đồng minh trên thực tế - de facto  và các chung sức thương mãi có thể họat động doanh nghiệp một cách hửu hiệu với Bắc Bình( thủ đô Trung Quốc ).
             Những năm gần đây, Đài Loan có vẽ như đã đạt mức quân bình tối hảo ở thế giới mỗi ngày mỗi thêm hội nhập trong đó các giáo điều cứng nhắc đôi khi phải thích nghi cùng thực tế thực tiễn. Thế cho nên trong khi cố giữ lòng trung thành với cá tính tự trị của mình, Đài Bắc đã lựa chọn ít đối đầu hơn, thực tiển hơn khi đối xử cùng kẻ láng giềng tiến mau lẹ hơn, to lớn hơn, bên kia eo biển Đài Loan .
           Rỏ ràng là đối xử ngọai giao thích nghi này giúp Đài Loan, đã có những cơ bản kinh tế rất vững mạnh, trỗi dậy từ sự suy đồi kinh tế tòan cầu năm 2008 không hề bị sứt mẽ và tiếp tục hiệu năng hăng hái liền ngay sau đó. Các con số cung cấp một hình ảnh sức mạnh kinh tế Đài Loan cũng như liên hệ cải thiện và hội nhập lớn hơn với Trung Quốc .
         Khi kinh tế tòan cầu phục hồi năm 2009, và đạt một tổng sản phẩm nội địa quốc gia trung bình – average gross domestic product ( GDP) là 5% , GDP Đài Loan vươn lên đến 10.82% , mức cao nhất trong 24 năm vừa qua, nhờ xuất khẩu tăng mạnh và yêu cầu trong xứ cường tráng. Mức thất nghiệp cũng xuống thấp nhất từ 30 năm qua.
         Tuy nhiên, vì thị trường nội địa nhỏ hẹp, Đài Loan đặt ưu tiên cho liên hệ thương mãi hải ngọai, đặc biệt với Trung Quốc láng giềng và kẻ chung sức đã lâu dài là Hoa Kỳ. Một đường phân thủy những liên hệ qua eo biển Đài Loan là Thỏa hiệp Khung Họat động Cộng tác Kinh tế - Economic Cooperation Framework Agreement hay ECFA   đã được Bắc Bình và Đài Bắc ký kết năm 2010. Thỏa hiệp làm ra cốt giảm bớt thuế và rào cản thương mãi giữa đôi bên.
              Hiện nay, Trung Quốc lục địa là thị trường Đài Loan xuất khẩu lớn nhất, kế đến là Hồng Kông và thương mãi song phương ước lượng là 110 tỉ đô la Mỹ. Vì lẽ khỏang 42 % hàng hóa xuyên qua eo biển, chánh phủ Đàì Loan của tổng thống Ma Ying Jeou( Mã Doanh Diêu ? ) đã công nhận cần thiết phải đa phương thêm xuất khẩu Đài Loan, nếu xứ này muốn duy trì cạnh tranh trong dài hạn.                           
             Đài Loan đã nói chuyện cùng Hoa Kỳ, cố thiết lập một Thỏa hiệp Khung họat động Thương mãi và Đầu tư – Trade and Investment Framework Agreement hay TIFA . . Đàm phán ngưng trệ 3 năm qua, nhưng Đài Bắc vẫn cương quyết cố kết thúc một thỏa hiệp thương mãi –FTA.  Theo tổng trưởng Ngọai giao Yang chin- tien- Dương tần thiên ( ? ), Đài Loan muốn ký kết một hiệp thương FTA như thể một thỏa hiệp kinh tế với Hoa Kỳ. Tầm quan trong thỏa hiệp này đã minh bạch, kể từ khi Hoa Kỳ là một kẻ chung sức   hàng đầu của Đài Loan. Nếu Đài Loan không ký kết được thỏa hiệp như thế với Hoa Kỳ, thì Đài Loan sẽ rơi vào vị trí rất bất lợi, vì Đài Loan sẽ không còn khả năng cạnh tranh với các đối thủ chánh  nữa.
 
               Cải thiện trong nước
              Dù cố gắng nhìn xa hơn để cải thiện liên hệ thương mãi cùng các láng giềng , Đài Loan cũng đã tung ra một chương trình nhiều tỉ đô la xây dựng hạ tầng cơ sở - infrastructure nhắm mục đích cải thiện đời sống, hút dẫn thêm đầu tư ngọai quốc, biến xứ sở thành một điểm trọng tâm   thương mãi và giao thông năng động nhất Á Châu. Dự án tham vọng liên quan đến xây cất đường xá mới, các khâu đường xe lữa cao tốc, phi trường và hải cảng . Vài dự án rơi vào kế họach BOT ( Xây dựng - Hoat động và Chuyễn giao - Build – Operate – Transfer), mở rộng cho đầu tư quốc tế. Theo Phó tổng trưỡng Yeh kuang Shih – Diên Quang Thạch (  Tế ? ), bộ Giao Thông - Vận Tải có một sứ mệnh đặc biệt. Vì  là một hải đảo, cho nên Đài Loan cần có một mạng lưới không vận và hải vận tốt đẹp.           
              Một trong những dự án chánh của bộ là tái thiết, tân trang ga cuối  số 1-terminal 1 và ga cuối số 2 của Phi trường quốc tế Đào Viên - Tao Yuan. Khi cải thiện hòan tất năm 2012, cơ sở sẽ đưa khả năng tiếp đón hàng năm của phi trường từ 32 triệu hành khách lên 37 triệu và 45 triệu khi  ga cuối thứ 3 hòan tất năm 2018 . Tưởng cũng nên nhắc lại là khả năng đón tiếp của tất cả phi trường quốc tế Việt Nam hiện nay là khỏang 33 triệu hành khách một năm. Và phi trường mới Long Thành – Đồng Nai, Biên Hòa thay cho phi trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn dự trù hoàn tất đợt I năm 2015, sẽ có khả năng 30 triệu hành khách mỗi năm và khả năng tương lai sẽ là 80- 100 triệu mỗi năm, vào năm 2030 ( ?).
            Đại phố Không vận- aerotropolis Đào Viên sẽ chiếm 18 000 ha, sẽ có khách sạn , trung tâm hội nghị và những vùng thương mãi tự do, đóng vai trò quan trọng khẩn thiết trong chương trình phát triễn kinh tế Đài Loan. Ngòai Đào Viên, chánh phủ cũng thiết lập những vùng thương mãi tự do quanh các hải cảng Đài Bắc- Taipei, Cao Hùng – Kiaoshiung,  Kế Long – Keelung và Đài Trung - Tai chung .
         Theo Diên Quang Thạch, trên phương diện địa lý, Đài Loan giữ một vị trí chiến lược cho trung tâm Đông Á, ngay tại tâm cang Á Châu. Đài Loan cần đòn bẩy mức thân thuộc với Trung Quốc, để các doanh nhân từ Đài Loan có thể vào Trung Quốc thiết lập những họat động doanh vụ tại Đài Loan, sử dụng Thỏa hiệp ECFA. Ông nói thêm một cơ hội thuận tiện mới ở Đài Loan là ga Xe Lữa cao tốc Đào Viên, nơi đây Đài Loan dành 22 ha đất đai muốn có ai đó phát triễn thành một khu công nghệ tụ điểm vào du lịch y khoa.
           Vì lý do địa lý gần gủi lục địa Trung Quốc và sức mạnh của nhiều lảnh vực cao kỷ, Đài Loan đã tự đề xướng minh là tấm nhún lý tưởng để lọt vào thị trường khổng lồ và tiềm năng sinh lợi béo bở Trung Quốc, cho Hoa Kỳ hay các công ty ngọai quốc nào không biết rỏ văn hóa Trung Quốc . 
             Nhiều năm nay, Đài Loan đã cũng cố danh tiếng là một lò nóng hổi của kỷ thuật mới mẽ tân tiến  về chế tạo máy móc công nghệ thập niên 1980, kỷ thuật thông tin – information technology thập niên 1990, kỷ thuật sinh học – biotechnology thập niên 2000  và kỷ thuật xanh- green technology thập niên đầu thế kỷ 21 này.
           Ngày nay, nền kinh tế Đài Loan khoa trương một hình thức đa dạng cao và gây ấn tượng mạnh mẽ của những lảnh vực công nghệ và hiệu quả cao, đã giúp cho xứ sở trở nên rất hấp dẫn cho các nhà đầu tư ngọai quốc. Theo  tổng trưỏng Kinh tế  Shih yen Shiang – Tửởng Diên Thạch(? ), Đài Loan có những cụm công nghệ rất mạnh mẽ và cũng giàu tư bản tài chánh. Trong 20 năm vừa qua, Đài Loan đã chuyễn hướng khả năng từ OEM đến ODM . Nay Đài Loan đã rất uy vũ về họa kiểu- design   và sáng chế - innovation, và rất tin tưởng  sẽ bước vào doanh nghiệp nhãn hiệu riêng mình, trong 10 năm tới. Thị trường Tàu đang bành trướng mau lẹ. Thị trường nội địa Đài Loan cũng tăng trưởng lớn. Đó là căn bản xây dựng doanh nghiệp nhản hiệu chính mình.
         
                Khoa học tăng trưởng và Tăng trưởng khoa học
                 Một trong những liên tưởng thường lệ nhất đến nhãn hiệu Đài Loan là tiếng tăm giá trị thực về khoa học và kỷ thuật , dù đó là kỷ thuật thông tin – IT, các khoa học sinh học hay năng lượng xanh. Hầu bảo đảm cho Đài Loan khỏi mất mũi nhọn cạnh tranh của mình, Ủy Ban Quốc gia Khoa học – National Science Council, một cơ quan chánh phủ có nhiệm vụ đề xướng và tài trợ khảo cứu khoa học trong nước.
                 Chiến lược của Chánh phủ là thiết lập các công viên khoa học- science parks   và các cụm công nghệ- industrial clusters , không chối cải được là thiết yếu cho việc trổi dậy sáng chói như sao băng thành một nhà máy điện kinh tế đầy sức mạnh liên tục, ngay cả giữa những cơn khủng khỏang giảm sút tài chánh và kinh tế thế giới. Thực tế một nghiên cứu của Ngân Hàng Quốc tế   đã chọn Đài Loan là   một nền kinh tế hàng đầu căn cứ trên tri thức, hiểu biết – knowledge  based economy ở Á Châu. Theo tổng trưởng Ủy Ban Khoa học Quốc gia Lý ( Lê ) lục Tráng( Chương ? )- Lee Lou Chuang , Đài Loan hiện nắm giữ 28% cổ phần thị trường tòan cầu  họa kiểu công nghệ thông tin và truyền thông- ICT design.
                Ủy Ban Khoa học Quốc gia giám sát Công viên   Khoa Học Trung tâm Đài Loan – Central Taiwan Science Park , Công viên Khoa học Nam Đài Loan - Southern   Taiwan Science Park , và Công viên  khoa học Hưng ( Thuấn? ) Châu- Hsinchu Science Park. .Cương quyết giữ vững hàng đầu kinh tế, Ủy Ban cũng đã phóng lên những chương trinh về kỷ thuật sinh học canh nông, viễn thông, kỷ thuật sinh học và dược phẩm, giảm bớt thiên tai, năng lượng, y khoa hệ gen – genomic medicine, khoa học nanô và kỷ thuật nanô, học hỏi điện tử -e learning, lưu trữ kỷ thuật số - digital archiving, bán dẫn – semiconductors và mạch vòng hội nhập - integrated circuits .
             Trong số các hảng tiền phong lảnh vực kỷ thuật Đài Loan là Delta Electronics.  Kỷ niệm 40 năm thành lập, công ty căn cứ tại Đài Bắc này, đã tiến từ một  họat động chỉ có 15 người, thành một nhà cung cấp đáng tin cậy lớn nhất thế giới về điện, làm mạng lưới – networking và các giải pháp không dây – wireless solutions . Theo chủ tịch thiết lập viên Bruce Cheng - Thành, độ tin cậy thật cực kỳ quan trọng. Hảng Delta bán các sản phẩm ở phí tổn tối thiểu, nhưng không đương nhiên ở giá tối thiểu. Khi khách hàng mua thiết bị Delta, họ rất ít bị lôi thôi và như thế họ ít tốn dịch vụ sửa chửa. Theo tiến trình, sử dụng Delta là lựa chọn ít phí tổn nhất. Delta Electronics   cũng là công ty Đài Loan duy nhất nằm trong danh sách 100 hảng Tiền phong Tòan Cầu Carbon thấp hàng đầu - Global Top 100 Low Carbon Pioneers của tuần san CNBC Doanh vụ Âu Châu- European Business Magazine.
           Cheng cho biết thêm là hảng cố gắng làm ra một cái gì có thể sử dụng lâu dài hơn . Người khác cho rằng hể nguồn năng lượng điện càng hửu hiệu và lâu dài thì doanh vụ lại càng giảm đi. Đó là điều sai lầm. Để bảo đảm cho thế hệ sắp tới có đủ vật liệu thiên nhiên hầu tiếp tục họat động, chúng ta bắt buộc phải tìm những phương cách kinh tế  làm cho năng lượng càng kéo dài thêm và nếu được, có thể tái sử dụng ở phí tổn thấp hơn .
          Có những sức mạnh tổng thể như thế, thật không đáng ngạc nhiên cho lắm thấy Đài Loan vẫn duy trì là một trong những nền kinh tế thế giới vững bền nhất và là một nơi được các nhà đầu tư ưa chuộng . Phối hợp giữa thực tiễn, sức mạnh tài chánh và hiểu biết – know how kỷ thuật sẽ tiếp tục làm ra những tiên đóan sán lạn và thành quả tích cực.
        Theo lời Bill Wiseman, chủ tịch Phòng Thương Mãi Hoa Kỳ ở Đài Loan, Hoa Kỳ đầy hy vọng về tăng trưởng kinh tế Đài Loan. Hoa Kỳ vẫn tin tưởng vào công nghệ kỷ thuật Đài Loan. Hoa Kỳ đã có vài kẻ thắng cuộc ở Đài Loan khó mà sóan đổi ngôi báu. Trong một công nghệ kỷ thuật đang trưởng thành, Đài Loan tự khắc chạm cho mình một vị trí rất mạnh mẽ . Điều này vẫn tiếp diễn.
        
             Nền giáo dục Đài Loan: một quán quân thế giới bị bỏ sót
             Dù rằng kỳ diệu kinh tế Đài Loan đã được nghiên cứu kỷ càng, lý do chủ yếu cho lảnh đạo và kỷ thuật và doanh nghiệp Đài Loan, thường ít khi được nói tới. Đài Loan hoan hỉ  có một nền gíáo dục đại học tầm vóc hạng nhất thế giới.
              Đại học là nền tảng tăng trưởng, phát triễn và tạo công ăn việc làm Đài Loan. Hơn 60 % dân Đài Loan đã tốt nghiệp đại học. Đặt Đài Loan đứng thứ 5 về giáo dục cấp 3 ( cấp 1 là tiểu học, cấp 2 là trung học )   trong Báo cáo Diễn đàn Cạnh tranh  Toàn cầu Kinh tế Thế giới - World Economic Forum Global Competitiveness Report , năm 2009,   cũng xếp Đài Loan vào hạng 6 trong số 133 xứ sở về lọai sáng chế.
              Năm 2010, Higher Education QS World University Rankings đặt 9 viện đại học Đài Loan vào số  500 đại học hàng đầu thế giới, và viện Đại Học Quốc gia Đài Loan trong số 100 viện đầu sổ. Năm 1964, viếng thăm  lại phát triễn kinh tế Đài Loan xem đã tiến triễn như thế nào kể từ năm 1959, tìm cách nào in sách khoa học kỷ thuật thế giới cập nhật nhất rẽ tiền cho sinh viên miền Nam Việt Nam mua sách tham khảo thêm, tìm mãi không thấy sách về  công nghệ  nhà máy mía đường, chỉ thấy sinh viên Đài Bắc , Đài Trung… ồ ạt mua các sách in lậu ( không trả tiền nhuận bút cho các tác gỉả ), giấy báo thô hào, nhưng in sạch sẽ, rỏ rệt , rẽ tiền về điện tử  và các ngành liên hệ
         Cũng vào năm 2010, một nghiên cứu của ESI- Essential Science Indicators , 5 viện đại học Đài Loan được xếp vào hàng đầu sổ của 1% cơ chế đầu hạng thế giới về khảo cứu liên quan đến 16 trong số 21 lảnh vực đặc thù. Một trong số này là viện đại học Chiao Tung( Chiêu? Đông )- NCTU tại Hsinchu.
              Viện đại học Chiao Tung NCTU  thành lập năm 1958, thực hiện la bô bán dẫn đầu tiên ở xứ này, thúc đẩy kỳ diệu kinh tế Đài Loan. Ngày nay, NCTU là một viện hướng về khảo cứu tòan diện với 9 trường đại học và 13000 sinh viên, 7000 là sinh viên cao học. NCTU chuyên về công nghệ học- engineering, bán dẫn – semiconductors, quang tử học – photonics , ICTkhoa học computer. Khoa khoa học computer NCTU, nghiên cứu ESI xếp vào hạng 32 thế giới và xếp hạng thứ 35 ở nghiên cứu xếp hạng hàn lâm các viện đại học thế giới năm 2010 của Viện Đại học Giao Đồng- Jiao Tong tại Thượng Hải. Còn khoa công nghệ học được xếp vào hàng 32 và 47 ở 2 nghiên cứu kể trên. Theo Khoa trưởng Shang H. Hsu của  Sở Hải Ngọai Vụ NCTU, nếu ai đó nhìn xem danh sách 100 công ty cao kỷ hàng đầu thế giới trong 10 năm vừa qua,   khỏang 20 hảng là từ Đài Loan và khỏang 60% các hảng này do cựu sinh viên NCTU khởi sự .
            NCTU đã hút dẫn nhiều sinh viên ,vì chưng viện NCTU liên hệ chặc chẻ với công nghệ tư nhân . Hsu nói: hầu hút dẫn sinh viên đến từ các viện đại học hàng đầu Hoa Kỳ, chúng tôi đã   thiết lập chương trình quốc tế hai tháng hè gồm tiếng Tàu và các bài giảng văn hóa Tàu và quan trọng hơn hết là làm nội trú tại các doanh nghiệp cao kỷ địa phương ở Công viên Căn bản Khoa Học Hsinchu. Hsu nói thêm: chúng tôi muốn tăng thêm các sinh viên từ Hoa Kỳ , đặc biệt các sinh viên ngành công nghệ học từ các viện đại học Hoa Kỳ hạng nhất và hạng nhì tiêu chuẩn cao như NCTU.
         NCTU cũng là một trong những viện đại học Đài Loan được các hảng ngọai quốc lựa chọn làm bạn chung sức như Corning, Intel, IBM và Microsoft.  Những hảng này thiết lập các la bô  khảo cứu ở khu đại học xá. Những công ty dẫn đạo công nghệ này có rất nhiều ý kiến , nhưng không biết là chúng có thể thực hiện nổi không. Chúng tôi làm những nghiên nghiên cứu thực hiện- feasibility và chia sẽ tác quyền sở hửu trí thức, vì lẽ NCTU có Cơ Quan tài sản trí thức hàng đầu và lớn nhất ở Đài Loan, theo lời giải thích của Phó Viện Trưỡng tiến sĩ Jason Yi Bing Lin – Nghị Bình Lâm. Lâm nói thêm: chúng tôi cũng cộng tác với các công ty Mỹ và đem các kỷ thuật của họ vào Đài Loan qua một công ty nội địa. Chẳng hạn, vừa mới đây chúng tôi họat động với Telcordia. Khi khảo cứu cộng tác hòan tất xong, chúng tôi tiếp xúc với hảng viễn thông – telecom lớn nhất Đài Loan là Chunghwa – Trung Hoa Telecom xem thử hảng này có muốn thi hành kỷ thuật không.
          Một trong số những trường nổi danh ở Đài Loan là viện đại học Cơ Đốc  Phúc Yên( ? ) – Fu Jen Catholic university ( FJU ), ở ngọai ô Đài Bắc. FJU có 11 trường đại học và   27 000 sinh viên. Phương thức quản lý các trường này năm 2005 đã được xem là   nằm trong số 5 % trường doanh nghiệp – business schools đầu hạng thế giới. Năm 2010 cũng lại dược xếp hạng như vây. Theo phó viện trưởng tiến sĩ Lucia S. Lin – Lâm , viện Cơ Đốc Giáo FuJen là một viện đại học phối hợp văn hóa Tàu và văn hóa Tây Phương. Chúng tôi cam kết   xây dựng một viện đại học quốc tế ưu hạng, đặc biệt để trở thành một viện Đại học cho cả tòan thể nuớc Tàu, lục địa lẫn Đài Loan.
        Danh tiếng FJU đáng kể ra là trường y khoa đang biến thành mau lẹ thành trường đầu hạng thế giới về phương cách dạy dỗ. Trường nay đã cho tốt nghiệp ba khóa sinh viên cao học và một sinh viên tốt nghiệp của trường đạt điểm cao nhất kỳ thi quốc gia. Đó là nhờ sư phạm trường sử dụng đào tạo các sinh viên y khoa. Trường dùng một hệ thống tòan diện – comprehensive system của học hỏi căn cứ theo vấn đề. Chúng tôi đòi hỏi các sinh viên học cộng tác với nhau và từ năm thứ nhất trở đi, chúng tôi phân chia sinh viên ra nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm có người giám hộ là một bác sĩ y khoa. Làm như vậy rất tốn kém, nhưng chúng tôi đầu tư vào chương trình.       
           Trong một nền kinh tế, sức mạnh trước đây là chế tạo thiết bị độc đáo-original equipment manufacturing , nay phô diễn sức mạnh mới là chế tạo họa kiểu độc đáo- original design manufacturing, FJU đã xây đắp một  chuyên môn về họa kiểu và thời trang. Thật sự, viện sẽ tung ra gần đây một lọai cử nhân- bachelor degree dạy tòan tiếng Anh về quản lý thời trang và nhản hiệu Á Đông. Hiện nay FJU có 185 trường liên hệ ở 34 quốc gia, kể cả 58 trường ở Hoa Kỳ . Gồm luôn cả phát triễn 6 chương trình bằng cấp song đôi với các viện đại học Hoa kỳ , như viện Temple University, viện San Francisco University và viện Texas A&M International University.
           Duy nhất cho viện FJU là việc cấp bằng bộ ba – triple degree, bằng Cao học về doanh nghiệp và và quản lý Tòan cầu – Master Global Entrepreneurship and Management với viện San Francisco và viện Ramon Luull của Tây Ban Nha. Vào cuối năm giảng dạy không ngừng ttrong một năm, dạy mỗi tam cá nguyệt ở một trường khác nhau, sinh viên đọat bằng cấp cao học-master’ s degree từ 3 viện đại học.                  
           Thế nhưng Đài Loan không dừng chân sau các thành quả giáo dục hiện hửu.   Vì dân số già nua thêm, qúa đông sinh viên ở các viện đại học, và tỉ số sinh sản thấp kém , Đài Loan nhận thức là tương lai xin nhập học ở ngành giáo dục đại học Đài Loan tùy thuộc vào mức hút dẫn các sinh viên quốc tế. Đó là lý do tại sao 47 viện đại học Đài Loan  lại gia nhập chung sức  học bằng cấp song đôi với các đại học quốc tế.
              Theo tiến sĩ Lâm Tống Minh – Lin Tsong Ming, thứ trưởng chánh trị giáo dục, Đài Loan buộc lòng phải quốc tế hóa. Sinh viên quốc tế hiện chiếm 3.3 % tổng số sinh viên, khỏang 45 000 người. Đài Loan muốn đề xướng thêm các trường Đài Loan, tăng gia sỉ số lên 10% mỗi năm, đạt 150 000 sinh viên năm 2020 .  
                                      
 ( Irvine, Nam Cali ngày 19 tháng 9 năm 2011 )
 
  Số lượt bạn đọc kể từ 01/9/2009 292487 visitors (1183624 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=