TRUNG HỌC NNG LM SC CẦN THƠ
  Lịch sử văn hóa Trung Hoa
 
Lên mạng ngày 13/2/2011

LỊCH SỬ VĂN HÓA TRUNG HOA
GS Tôn Thất Trình
                  Phần II-  Ảnh hưởng Tây Phương  vào thế kỷ  thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20          
      
             Phần lớn lịch sử Trung Quốc chia ra một cách tự nhiên thành các thời đại triều đình - dynasties . Nhưng các sử gia cận đại nhìn rỏ hơn vào những thừa tố khác: thay đổi xã hội, các đe dọa ngoại xâm, một phần khởi xướng qua một triều đình, góp phần vào sự sụp đổ triều đại và làm ra hình dạng chánh trị của triều đình kế tiếp. Như vậy đánh dấu phân chia lịch sử ở những điểm các thừa tố mới, bắt đầu  ảnh hưởng đến tình thế các sự cố và nơi lúc chúng không còn đáng kể nữa. Không một điều nào có cơ may trùng điệp với khởi sự hay chấm dứt một thời đại cả. Chẳng hạn, vì sử gia xét thấy một thay đổi quá quan trọng để xem đó là một buổi giao thời từ chủ nghĩa trung cỗ - medievalism đến   thời cận đại; vụ này xảy ra không phải ở giữa hai thời đại Đường - TangTống - Song  mà vào lúc khởi loạn An Lộc Sơn - An Lushan, năm 755 sau Công Nguyên, khoảng 150 năm, trước khi nhà Đường chấm dứt. Tuy nhiên cần thông suốt tên và niên kỷ của các thời đại, vì chúng đã được dùng làm thành những mốc quy chiếu cho mọi lịch sử, văn hóa cũng như chánh trị Trung Quốc. Chúng ta thường biết lịch sử chánh trị các triều vua Trung Quốc, những chỉ biết lẽ tẽ hơn vài đặc điểm văn hóa Trung Quốc . Sách kể trên của hai giáo sư Hoa Kỳ về sử Trung Quốc thường dệt chung văn hóa Trung Quốc vào những triều đại khác nhau, nhưng đôi khi lại tập trung vào một hay nhiều lảnh vực văn hóa. Tỉ như nói về Thi ( Thơ ) thời nhà Đường, Phật giáo vào thời Lục Quốc- Six Dynasties , Kỷ thuật vào thời nhà Tống, Truyện - novel vào thời nhà Thanh, v.v… và   một giải thích sâu đậm , tóm tắt  trong vài trang tinh thần hội họa phong cảnh - landscape Trung Quốc
                                                                       
            II-a )  Các niên đại lịch sử Trung Quốc được  sách chia ra  tóm tắt như sau:

 
                   -  Nguồn gốc và   thuở ban đầu lịch sử :
                       Con người và nhân loại gần như người đã sinh sống lâu năm ở Trung Quốc. Năm 1923 khám phá ở một hang đá vôi gần Bắc Kinh di vật hài cốt của Người Cổ Bắc Kinh Sinanthropus pekinensis , đi thẳng đứng, biết dùng lữa và bộ nảo bằng 2/3 con người hiện nay. Đồng thời cũng khám phá thêm vài dụng cụ đồ đá và di tích động vật như trâu , nai , cừu , heo rừng, và tây ngu- rhinoceros . Đó đúng vào thời ký Giữa Pleistocene, cách đây gần 500 000 năm, một thời kỳ nóng nực ,khô , giữa thời đông giá .   Năm 1963 lại khám phá thêm ở Lan -Thiên- Lantian, gần Tây An, tỉnh Thiểm Tây, một họ người - hominid, có lẽ còn trước người Bắc Kinh chừng 100 000 năm. Bộ nảo họ này có phần nhỏ hơn , nhưng vẫn lớn hơn vượn người - anthropoic apes nhiều lắm. Tên khoa học là Sinanthropis lantienensis. Con người khôn ngoan Homo sapiens thuộc  hậu kỳ thời đồ đá cũ - late paleothic xuất hiện ở hang động trên tại Chu Khẩu Điểm - Zhoukhoudian khoảng 35000 năm TCN , tương đương với người Cỗ Cro- magnon ( Pháp ). Một số vị trí khác chứa dụng cụ và xương người thời kỳ đồ đá cũ , cũng được tìm thấy từ Mãn Châu đến miền Nam Trung Quốc, thời gian kéo dài xuống tận khoảng 10 000 TCN . Những dụng cụ này cũng được tìm thấy ở phía Bắc Hồ Baikal - Tây Bá Lợi Á, nên có thể gọi là văn hóa chung Đồ đá Cũ Trung Quốc- Tây Bá Lợi Á. Thời kỳ đồ đá mới-neolithic tiếp theo, người Trung Quốc Thượng Cỗ định cư một nơi, thay vì hái lượm và săn bắn, nay đã biết nung đồ đất, trau mài đồ đá cho sắc để chặt cây cối ,sinh hoạt nhờ vào nghề nông và nghề mục súc. Đó là Trung Quốc thần thoại từ các đời Tam Hoàng ( Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông ) và Ngũ Đế ( Hoàng Đế, Xuyến Húc , Đế Cốc,  Nghiêu - Yao,  Thuấn- Shun ) , cho đến đời Hạ -Xia Ân ( Thương- Shang ). Rất khó định niên đại văn hóa thời Đồ Đá Mới ở miền Bắc Trung Quốc . Đồ gốm -pottery sớm nhất  xác định bằng carbon - 14 ở Nhật vào khoảng 8000 TCN. So sánh với đồ gốm tìm thấy ở Dương Sào - Yangshao miền Trung Tây đồng bằng sông Hoàng Hà và ở Long Sơn - Longshan, Hà Nam , có lẽ văn hóa Dương Thao và Long Sơn xuất hiện sau năm 5000 TCN , lúc các văn hóa Cự thạch - megalithic ở Âu Châu đã thịnh hành. Mới đây khảo cổ ở lưu vực Tarim , miền Tây Trung Quốc khám phá hơn 100 xác ướp - mummified corpses  sống cách đây từ 2000 đến 4000 năm. Tất cạ các xác ướp đều có đặc điểm giống người Cáp ca - Caucasian. Sau đó, đa số các học giả Trung Quốc định niên đại lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ năm 2852 TCN và đều cho rằng Tam Hoàng - Three Sovereing cai trị đầu tiên Trung Quốc Thượng Cổ,  tiếp theo là Ngũ Đế- Five Rulers .           
                   - Lập quốc: nhà Châu- Zhou dynasty    1027 - 221 Trước Công nguyên -TCN     
                    -Thống nhất và Bành trướng : nhà Tần- Qin dynasty ; 221- 206 TCN và nhà Hán - Han dynasty: 206 TCN - 221 Sau Công Nguyên- SCN  
                     - Ngoại nhân , các Tướng và Kẻ kỳ cục ; thời Lục Quốc- Six dynasties period: 222- 589 SCN ở miền Nam là Ngô - Wu (thời Tam Quốc và Tây Tấn), Đông Tấn - Eastern Jin, Tiền (hay Lưu) Tống - Liu Song, Nam Tề -Southern Qi, Lương - Liang và Trần - Chen .    
                      - Văn minh Trung Quốc đua nở: nhà Tùy - Sui dynasty : 589- 618 nhà Đường - Tang dynasty 618-907
                      - Dân Tàu bước vào thời cận đại : thời Ngũ Đại ( Quí ) : Five dynasties 907 -960   ở miền Bắc Trung Quốc là Hậu Lương, Hậu Đường,Hậu Hán , Hậu Tấn, Hậu Chu và thời Thập Quốc- Ten kingdoms 907- 970 ở miền Nam Trung Quốc là Ngô, Tiền Thục  (Shu ), Ngô,  Việt( Yue ), Sở , Mân , Nam Hán, Nam Binh, Hậu Thục, Nam Đường, Bắc Hán; nhà Tống- Song dynasty 960 -1126nhà Kim - Jin dynasty ( Jurchen ) 1126- 1234 ở miền Bắc và nhà Nam Tống - Southern Song dynasty 1127- 1279 ở miền Nam.
                      - Gián đọan Mông Cỗ : nhà Nguyên - Yuan dynasty 1280- 1368
                      - Phục Hưng và Cũng cố nền cai trị Tàu : nhà Minh - Ming dynasty 1368- 1644
                      - Mãn Châu , đế quốc Tàu đạt đỉnh và suy tàn : nhà Thanh -Qing dynasty 1644 - 1911 .
 
           II- b-   Đối chiếu với vài mốc lịch sử Việt Nam.
          Theo Phan huy Lê , Hà văn Tấn, Hoàng Xuân Chinh - 1989, thì sơ kỳ thời đồ đá cũ, phát hiện từ năm 1960 những di tích như rìu tay bằng đá ở Núi Đọ ( Thanh Hóa ) từ 30 000 năm trước ; di tích 10 chiếc răng người hóa thạch , khai quật  các năm 1964- 1965 ở Thẩm Khuyên và Thẩm Hai( tỉnh Lạng Sơn ). Những chiếc răng này  có nhiều đặc trưng gần giống người vượn Bắc Kinh Sinanthropus. Khai quật các năm 1963 1964, các nhà khảo Cổ Đông Đức tìm ra 4 chiếc răng hàm ở Hang Hùm nằm trong vùng ngập nước đập Thác Bà( huyện Lục Yên - Hòang Liên Sơn ) , hình dáng rất gần răng người Homo sapiens, , tuy rằng cùng thời với người cỗ Neanderthal , thuộc niên đại hậu kỳ Pleistocene. Thời kỳ đồ đá mới, Việt Nam đã có văn hóa Hòa Bình , văn Hóa Bắc Sơn, văn hóa Bàu Tró ( cách đây 5000 năm, văn hóa Hạ Long và văn hóa Cù Lao Rùa, thuộc lưu vực sông Đồng Nai.   Theo Tạ chí Đại Trường ( Dòng Việt số 17- năm 2005 ), ngọai trừ sử gia Nguyễn Phương, các “ sử gia ” quốc gia dân tộc Việt Nam  như Lý Tế Xuyên , Trần Thế Pháp… Ngô Sĩ Liên , Phan Thanh Giảng…Ngô Thì Sĩ… ghi chép lịch sử dân Việt Nam là lịch sử của đám con cháu Thần Nông, đời Hồng Bàng, có vua Hùng, Lạc hầu, Lạc tướng chống đối với sức đồng hóa của Trung Quốc ,một người láng giềng mạnh vừa là thù, vừa là thầy ở phương Bắc. Là thù của họ nên họ đánh đuổi cho “ sơn hà nam đế cư” . Là học trò nên chấp thuận quan điểm “trung hoa ” - “trung quốc” đem đặt ở đồng bằng sông Nhĩ Hà ( sông Hồng ), coi các tập thể chung quanh là “ phiên ”, là “liêu”… để mở rộng cương giới, vừa tăng thêm nguồn sinh lực quốc gia, vừa tránh xa ông thầy khó chịu, cứ chực tròng ách nô lệ lên trên đầu.   Biển phía Đông , núi bên Tây đóng khuôn Việt Nam  con đường phát triễn về Nam.
                  Thời đại các vua Hùng là thời đại mà trong đó tổ tiên chúng ta đã xây dựng được một nền văn minh cao, trước khi văn hóa Hán và người Hán xâm nhập. Từ khi khởi đầu thời kỳ này, theo truyền thuyết cách nay đã 4000 năm . Theo các chứng tích khảo cỗ học, định niên đại bằng than phóng xạ C14  , nó cũng cách nay 4000 năm , một trùng hợp kỳ thú !Cư dân thời đó sống chủ yếu trồng lúa, giống hột tròn, có thể là nếp chiếm ưu thế. Ngoài lúa,  còn trồng nhiều loại rau , củ và cây ăn trái. Ban đầu con người làm ruộng bằng cuốc đá. Đến giai đoạn Đông Sơn, lưỡi cày đúc bằng đồng. Trâu bò đượcc dùng làm sức kéo. Lúa được gặt bằng dao đá hay đồng. Bên cạnh nghề nông , nghề săn bắn và đánh cá vẫn tiếp tục, nhưng ở địa vị thứ yếu .
             Thời đế chế Tần, người Việt cỗ của nước Văn Lang- Âu Lạc đã anh dũng và bền bỉ đấu tranh đánh bại cuộc xâm lược qui mô lớn của đế chế Tần . Nữa sau thế kỷ 3 TCN , nước Âu Lạc - Vua An Dương ( Vương ) kháng chiến chống quân Tần. Nhưng đến năm 179 TCN , nước Âu Lạc đã bị Triệu Đà thôn tính và từ đó , trong hơn nghìn năm, đất nước Văn Lang- Âu Lạc và trong thời gian đầu , cả nước Chăm cỗ, bị các đế chế Trung Hoa đô hộ, với những mưu đồ đồng hóa rất thâm độc .
            Mùa Xuân năm 40 thời Đông Hán ( 43- 226 ) hai Bà Trưng khởi nghĩa, đóng đô ở Mê Linh ( huyện Yên Lãng , Hà Nội ) ( 40 -43 ). Bà Triệu khởi nghĩa năm 249, khi Trung Quốc thuộc Ngô ( 226- 280 ). Lý Bí - Lý Nam Đế khởi nghĩa năm 542 và nước Vạn Xuân thành lập, kéo dài 58 năm ( 554-603 ) thủ đô là Vạn Xuân ( Hà Nội ), lúc đó Trung Quốc thuộc nhà Lương ( 5065- 542 ). Mai Thúc Loan - Mai Hắc Đế khởi nghĩa năm 772 , và Phùng Hưng khởi nghĩa các năm 766- 791, thời thuộc Đường ( 618- 906 ). Họ Khúc ( Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Hạo ) giành quyền tự chủ các năm 905- 930. Dương Đình Nghệ tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc các năm 931-937, lúc đó ở miền Nam Trung Quốc là thời Nam Hán. Ngô Quyền và chiến thắng sông Bạch Đằng , đại phá quân Nam Hán năm 938, khởi nguyên thời kỳ Việt Nam độc lập , xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất.
                 Nhà Ngô ( 939- 967 ) đóng đô ở Cổ Loa ( Đông Anh , Hà Nội ) . Nhà Đinh ( 968- 980) đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (huyện Hoa Lư , Hà Nam Bình) . Lê Hoàn lên ngôi năm 980 và thắng quân nhà Tống xâm lăng lần thứ nhất năm 981 , lập nhà Tiền Lê ( 980- 1010). Năm 1010 , Lý Công Uẩn lên ngôi nhà Lý ( 1010- 1225), đổi quốc hiệu là Đại Việt, dời đô về Thăng Long ( Hà Nội ) năm 1010, kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần thứ hai ( 1075- 1077 ). Trước tiên, tướng Lý Thường Kiệt chủ động đưa quân sang đánh các châu Ung - Khâm - Liêm ( Quảng Đông , Quảng Tây ) khi nhà Tống đang chuẩn bị 10 vạn quân tác chiến và 20 vạn quân hổ trợ xâm chiếm Đại Việt. Năm 1077, ở trận Như Nguyệt ( Sông Cầu, Hà Bắc ), 10 vạn quân ta đánh tan  hai cánh quân 20 vạn quân Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy . Nhà Trần ( 1226- 1400 ) ba lần thắng quân Mông Cổ nhà Nguyên( 1280- 1368 ): năm 1258 , quân Việt chiến thắng ở Đông Bộ Đầu; năm 1285 , sau hội nghị Diên Hồng,  quân Trần Quốc Tuấn - Hưng Đạo Đại Vương thắng giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương; năm 1288, thắng quân Mông Cổ xâm lăng lần thứ ba ( 1287- 1288 ) ở sông Bạch Đằng .
        Nhà Hồ ( 1400- 1407 ) đổi quốc hiệu là Đại Ngu , kinh đô là Tây Đô ( Thanh Hóa) kháng chiến chống quân xâm lược Minh hai năm 1406-1407, rồi thuộc nhà Minh 20 năm 1407- 1427. Nhưng có nhiều cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Minh, xảy ra : Trần Ngỗi ( 1407- 1409 ), Trần Quý Khoáng ( 1409- 1413 ), Phạm Ngọc ( 1415- 1420 ), Lê Ngã ( 1419- 1420 ) và Lam Sơn ( 1418- 1427 ) . Sau các chiến thắng Tốt Động , Chúc Động ( 1426 ),  Chi Lăng , Xương Giang ( 1427 ). Lê Lợi có Nguyễn Trải phụ giúp, lên ngôi lập ra nhà Lê ( Hậu Lê ), trước thời Lê - Trịnh ( 1428- 1527) , giữ quốc hiệu là Đại Việt, kinh đô là Đông Kinh ( Hà Nội ) . Trên phương diện văn hóa phải kể đến bộ Đại Việt sử ký của Ngô Sĩ Liên hoàn tất năm 1479, bộ luật Hồng Đức biên soạn xong năm 1483… Nhà Mạc kéo dài từ năm 1527 đến năm 1592 . Từ năm 1553 đến năm 1592 là Nan Bắc triều va cuộc xung đột Lê - Mạc. Các năm 1570- 1786 là Đàng Trong - Đàng Ngoài và cuộc phân tranh Trịnh- Nguyễn. Các năm 1788- 1789 là kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh và chiến thắng năm 1789 của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ ở Ngọc Hồi và Đống Đa. Triều nhà Nguyễn thay thế triều Tây Sơn ( 1802- 1945) chấm dứt với thoái vị của vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng nhà Nguyễn. ( tuy từ thời vua Tự Đức đất nước mất dần , bị Pháp đô hộ chiếm hầu hết chủ quyền đến tháng 3 năm 1945 ) .

 
               II- c . Ảnh hưởng Tây phương ở Trung Quốc ở thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ 20

 
             Âu Châu và Trung Quốc đã biết hiện diện nhau một cách mù mờ từ nhiều thế kỷ. Một loại thể thương mãi mỏng thín nối liền hai văn minh này dọc theo Con Đường Tơ Lụa xuyên qua Trung Á từ thời đế quốc La Mã . Marco Polo và các  nhàdu hành can đảm đã đem về nước tin tức cả hai bên.  Giáo sĩ Dòng Tên - Jesuits , Cơ đốc Giáo từ thế kỷ thứ 17 ở triều đình Bắc Kinh đã mở rộng, sâu đậm những dòng chảy nhìn nhận và kính nể nhau. Nhưng mãi đến thế kỷ thứ 19, thể giới Tây phương mới khởi sự cảm giác mạnh mẽ trên Trung Quốc một cách đáng chú tâm. Ảnh hưởng cùng  một sức lực cho đôi bên ở nhiều phương diện, nhưng cuối cùng ảnh hưởng Tây Phương có tính cách tàn phá hơn cho Trung Quốc. Đầu thế kỷ thứ 19, các nhà lảnh đạo Trung Quốc lại khônghiểu  rỏ mấy ý nghĩa ảnh hưởng Tây Phương, tin rằng các kẻ man rợ - barbarian Tây Phương sẽ bị chế ngự và kiểm soát được theo những phương cách Trung Quốc đã áp dụng thắng lợi từ ngàn xưa. Nhưng  các sức lực ảnh hưởng là chồng chất, tích lũy và khác hẳn về thể loại cũng như mức độ, so với những tương tác giới hạn xưa cũ. Tình trạng quan điểm riêng mình của Trung Quốc dần dần rơi tuột khỏi tầm tay dân Tàu.

 
<!--[if !supportLists]-->·         <!--[endif]-->Công ty Anh Đông Ấn Độ
Các quốc gia Âu Châu và Hoa Kỳ đều liên can đến thương mãi và xâm lăng văn hóa Trung Quốc , nhưng Anh Quốc làm tiền quân và qui định bước chân . Dụng cụ Anh Quốc rất là đặc biệt , một đế quốc trong đế quốc : đó là Công ty Anh Đông Ấn- British East India Company , thành lập theo hiến chương Nữ Hoàng Elisabeth I - Đệ Nhất năm 1600. Ít ai biết tính chất công ty là gì, vì nó không giống bất kỳ tổ chức nào từ trước đến giờ, trừ hai công ty đồng thời là Công ty Hòa Lan Đông Ấn - Dutch East India Company , thành lập năm 1602 và Công Ty Đông Ấn - La Compagnie des Indes Orientales ( thành lập năm 1664 ).
Danh hiệu nguyên thủy của Công ty Anh là “Cơ quan Thương mãi Luân Đôn của Thống Đốc và Thương Gia cho Đông Ấn” , nhưng theo thời gian , nó trở thành tương tự một chánh phủ đồng thời không kém một công ty buôn bán; không những đóng tàu chở đầy hàng hóa đi bán , nhưng cũng vỏ trang đầy sung ống , duy trì một đạo quân có sĩ quan  riêng cho công ty hầu bảo vệ quyền lợi công ty trên biển và trên đất liền, tiếp nhận quyền thu thuế ở Ấn Độ , và giữ gìn luật pháp cùng trật tự trên đất ngoại quốc nơi nào kiểm soát địa phương yếu kém. Công ty Anh mau lẹ tự biến mình thành kẻ xăm lăng và chiếm giữ nhiều lảnh địa hải ngoại , ký kết nhiều hiệp ước với các chánh phủ Á Châu, duy trì hải cảng , kênh eo biển và bảo về bờ biển , thật sự ảnh hưởng đến hàng triều người  sinh sống nội địa từ các vị trí thương mãi công ty không có quyền cai trị và thật ra công ty lúc ban đầu cũng không có ý định cai trị. Vào đầu thế kỷ thứ 18, Công Ty Anh đã   đóng  ở cơ xưởng trên sông Thames những tàu gây ấn tượng đương thời trọng tải 750- 1250 tấn hay hơn nữa, lớn , ba cột buồm - threemasts , boong tàu bằng phẳng - flush deck đi biển xa tốt đẹp và có ráp 54 đại bác chống trả. Các tàu này đi vòng quanh thế giới trong 2 năm , nhưng bị hư sau  4- 8 chuyến đi trong 10 năm. Sau năm 1780, nhờ bọc gỗ bằng đồng , đời sống mỗi chiếc tàu mới  kéo dài được  12- 14 năm. Lợi lộc các chuyến đi vòng quanh thế giới rất lớn, nên đủ tiền thay thế tàu theo sác xuất này.                  
Công ty thiết lập một vị trí thương mãi ở Quảng Châu năm 1699 và bắt đầu hoạt động ở Ninh Ba ( ? ) - Ningpo và Áo Môn , Quảng Châu. Quảng Châu đã trở thành trung tâm cất giữ và phân phối hàng hóa chánh cho thương mãi Anh Quốc về tơ lụa , đồ sứ - porcelain , đồ sơn - lacquer , quạt , đại hoàng - rhubarb, xạ hương- musk , “ tutenag “ - một loại hợp kim tương tự kẽm . Nhưng chẳng bao lâu thì trà ( chè - tea ) trở thành món hàng chánh , vì yêu cầu tăng cao ở Anh Quốc. Năm 1803 , giá trị trà xuất khẩu sang Anh vượt quá 14 triệu bảng Anh - sterling . Hệ thống xuất khẩu Quảng Châu theo đúng ý tưởng Tàu . Dân Tàu giới hạn thương mãi ở hải cảng này để kiểm soát. Chỉ có các thương gia “ hong ” được chánh phủ chánh thức bổ nhiệm  và giới hạn vào khoảng một tá hong , mới có quyền buôn bán với ngoại quốc , và mỗi thương gia ngoại quốc phải được một thành viên của hong bảo đảm. Mua trà phải trả bằng lạng bạc - silver . Các cân thương mãi luôn luôn bất lợi phía Anh Quốc , cho nên Anh Quốc phải tìm những loại hàng hóa bán cho Trung Quốc bớt được thất thoát các lạng bạc. Trước tiên bán cho các hong năm 1800 là bông vải thô - raw cotton từ Bombay ( nay là Mumbai ) , những hàng lẽ chiếc - piece goods từ Madras, hàng len từ Anh , thiếc - tin từ quận Cornwall. Nhưng lợi nhất là thuốc phiện ( nha phiếnnguồn gốc Ả Rập , người Tàu gọi là cù túc) từ Bengal, và loại hàng cao giá và ít tốn chỗ này, mau lẹ biến thành hàng đứng hạng nhì sau bông vải, bán cho Trung Quốc. Công ty Anh trồng thuốc phiện ở Ấn Độ , bán đấu giá cho thương gia tư chở đến Canton bằng tàu thủy của Công Ty . Bạc thu hồi bán thuốc phiện dùng để Anh nhập khẩu trà.
Buôn bán thuốc phiện tăng quá mau lẹ làm chức quyền Trung Quốc lo ngại: từ cuối thế kỷ thứ 18 đến năm 1838 , buôn bán thuốc phiện tăng 40 lần. Năm 1838, Anh đã chở vào Trung Quốc 40 000 thùng nha phiến; năm 1830 đã có 10 triệu người Tàu nghiện thuốc phiện ). Và đồng thời cũng tăng hối lộ , tham nhũng ở các giới chức quyền, ( tham ô tệ nhất  thời vua Càn Long - Qian Long là tên vệ úy Hòa Thân được phong làm Lại bộ thượng thư, gần như Tể tướng, gia sản tịch thu 900 triệu lạng bạc , xây cất dinh thự cao đẹp hơn dinh thự của vua , chứa nhiều bảo vật … có phần lớn hơn gia sản của “Vua Mặt Trời- Roi Soleil” Pháp Louis XIV , theo Nguyễn Hiến Lê ở sách Sử Trung Quốc, xuất bản trong nước năm 1997 và tái bản ở Ca Li năm 2003. Buồn thay dinh thự kiểu Hòa Thân lại được một “đại gia ” Việt mô phỏng làm toàn bằng gỗ qúi ở Nghệ An   mấy năm vừa qua !) và tình trạng tham nhũng này đã đe dọa ổn định chánh thể Mãn Thanh. Sau năm 1830, vì thấy các lượng - taels bạc mất ra ngoài quá nhiều, ( năm 1898, riêng Quảng Châu, số thuốc phiện làm Trung Quốc thiệt mất 30 triệu lạng bạc ) chánh quyền Bắc Kinh thực thi hành động mạnh mẽ. Nhà Thanh phái Lâm Khắc Từ- Lin Zexu, một vị quan nổi tiếng liêm khiết làm Khâm sai đại thần , kiêm Tiết Chế Thủy sư ở Quảng Đông để thi hành việc cấm tuyệt bán thuốc phiện. Lâm (Tàu khác Việt Nam là gọi họ chứ không gọi tên ) tới Quảng Châu, sai tịch thu và hủy 3500 tẩu thuốc phiện và trên 12 000 lạng thuốc phiện. Sau đó ông đem binh vây thương quán Anh , khiến Lảnh sự Anh phải khuyên các thương nhân nộp toàn 20 thùng thuốc phiện , nặng hơn 1 tấn , Lâm tự xem xét , đốt hết , đổ xuống biển rời báo cáo cho thương nhân các nước biết là nếu về sau thuyền buôn nào vào bến mà chở thuốc phiện thì hàng hóa bị sung công, người bị tội chết. Các nước đều tuân theo , trừ Anh.  Anh tháo lui về Áo Môn ( Macao ) và sau đỏ ở đảo Hồng Kông, tiếp tục buôn lậu thuốc phiện dọc theo Trung Quốc và bảo đảm xuất khẩu trà Trung Quốc qua trung gian các hảng Hoa Kỳ. Đối xử với ngoại quốc của Lâm, tuy nay dưới mắt Tây Phương đúng lý trên phương diện đạo đức, nhưng vào thế kỷ thứ 19 được xem là ngạo mạn và đưa tới can qua, chiến tranh. Anh phái sang một lực lượng hải quân và các năm 1840- 1842 chiếm nhiều hải cảng Trung Quốc từ Quảng Châu đến Thượng Hải, và bắt đầu thương thuyết với triều đình Thanh tại một điểm gần Thiên Tân. Các cố gắng của Lâm được xem là thất bại; Lâm bị bải chức một thời gian.
 Chiến tranh tục gọi là Chiến tranh Nha Phiến- Opium War 1839- 1942 ,  tuy nha phiến không phải là một vấn đề tranh chấp duy nhất, là một cuộc chiến Anh khó lòng bào chửa nhất. Ảnh hưởng của Tây phương vào Trung Quốc ở thế kỷ thứ 19 thấm đậm một thảm kịch Hy Lạp. Đây không đương nhiên là một tranh đấu trực tiếp của hai cái nhìn đời sống và xã hội  xung khắc nhau, hai bên lướt qua nhau không tiếp xúc nhau như những tàu thủy chạy trong đêm tối vậy đó. Anh không màng lưu tâm để hiểu biết cách suy nghĩ Trung Quốc và Trung Quốc chẳng đặng đừng - cas de force majeure bắt buộc phải chấp nhận quan điểm Tây Phương trên thực tế và lẽ dĩ nhiên tích lũy một óan giận , phẩn nộ đắng cay kéo dài hơn một thế kỷ đến ngày nay. Mỗi bên đều tự cảm giác là chỉ có riêng mình tiêu biểu văn minh và mỗi bên đều dẫn chứng những điểm quyết định: Tây phương xem các luật lệ Trung Quốc là tàn bạo , dã man - barbarity và Trung Quốc cũng xem Tây Phương là man di, man rợ, khi quân đội Anh - Pháp đốt phá cướp bóc Viên Đình ( Đình vua thưởng ngoạn Mùa hè ) - Summer Palace năm 1860 .
Chiến tranh Anh Pháp các năm 1856 - 1860, đôi khi còn được gọi là chiến tranh thuốc phiện thứ nhì , lấy cớ là Quảng Châu không mở cửa theo đúng các điều ước đã ký kết. Thật sự Tây Phương muốn bảo đảm lần này là lần cuối cùng đế quốc Tàu phải thương thuyết với mọi nước ngoại quốc đúng theo các điều kiện Tây Phương đặt ra. Khi linh mục Chapdelaine , một giáo sĩ Cơ Đốc Pháp bị tra tấn và xử tử, Anh bắn phá và chiếm cứ Quảng Châu năm 1858. Huân tước Anh Algin và Nam tước Pháp Baron Gros tiến đánh Thiên Tân và buộc Thanh trào phải đặt các sứ thần ngoại quốc ở Bắc Kình vĩnh viễn ngang hàng nhau. Nhưng một năm sau, triều đình Mãn Thanh từ chối thừa nhận Điều Ước Thiên Tân  và chận đường không cho họ vào Bắc Kinh. Hơn nữa 4 chiến thuyền Anh bị pháo đài Tàu đánh chìm ở gần Thiên Tân, và Anh - Pháp trở lại tấn công Trung Quốc với một lực lượng mạnh hơn nữa. Vua Hàm Phong kinh hoảng  bỏ cung điện chạy trốn, gọi là đi “ tuần du” ở Nhiệt Hà - Rehe( Jehol ) và em vua là Cung Thân Vương - Prince Gong phải ký kết Đìều Ước Bắc Kinh năm 1960, chịu bồi khoản nặng nề ( 800 000 lạng bạc cho mỗi nước Anh - Pháp ) , còn nặng hơn cả Điều Ước Thiên Tân. Trung Quốc phải mở thêm 10 hải cảng khác, Ngưu Trang , Đăng Châu , Đài Loan , Viên Thủy , Triều Châu, Quỳnh Châu …

 
Nổi loạn

 
Vào những giai đọan cuối cùng ngoại quốc uy hiếp Trung Quốc, nhà Thanh bị một cuộc rối loạn to lớn đe dọa : đó là Loạn Thái Bình Thiên Quốc - Taiping Rebellion, 
xảy ra từ năm 1850 đến năm 1864. Nội loạn này có thể xem là một triệu chứng và nguyên nhân trào Thanh suy tàn. Nông dân bất mãn trong quá khứ Trung Quốc thường tụ hợp và khuấy động, dưới sự che chơ tôn giáo. Tuyệt vọng tìm lối thoát ở những hy vọng cứu tinh dân tộc, và các nghi thức tôn giáo hiến dâng điểm tập hợp cho những ai bất mãn ở một quốc gia nguyên khối , không cho phép tổ chức bất cứ một chánh trị nào khác. Tỉ như “giặc Khăn vàng - Yellow Turbans“ thời nhà Hán và Bạch Liên - White Lotus từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ thứ 19 của những hội kín chống triều đình dưới sự che chở của Lão- Đạo giáo - DaoistPhật Giáo - BuddhistThái Bình Thiên Quốc- Taiping Tianguo khác biệt, vì phong trào bắt nguồn từ các ý nghĩ Thiên Chúa giáo - Christian , tuy các ý nghĩ này chỉ được chấp thuận một phần nào thôi. Tên Thiên Quốc - Heavenly Kingdom phản ảnh Thánh kinh Tân Ước - New Testament, dù rằng   Cựu Ước- Old Testament trên thực tế chủ yếu ở cơ cấu thành quả. Thái Bình - Great Peace là một ý niệm hảo huyền cho một thời gian công bằng và   thuần khiết, đã có sẳn từ các thời Hán ( Giặc Huỳnh Cân thời Đông Hán tự xưng là học đạo Thái Bình, theo Trung Quốc Sử Cương , xuất bản ở Huế và ở SàiGòn năm 1958)  và thời Đường rồi.
         Thiết lập phong trào là một học giả bất đắc chí Hồng Tú Toàn - Hong XiuQuan ( 1814- 1864 ) quê quán nông thôn vùng Hakka - Hẹ( ?), Hải Nam, tỉnh Quảng Đông. Năm 1843 sau khi thi hỏng lần thứ tư, Hồng giải thích những mơ tưởng của mình theo những nguyên tắc Thiên Chúa Giáo. Ông mơ tưởng là em Chúa Giê Su, để cứu vớt dân Tàu khỏi cơn hiểm nghèo Qủi Sứ làm ra. Năm 1850, Hồng Tú Toàn cùng một số bạn đồng học , đồng hương như Dương tú Thanh - Yang Xin Qing , Đông Vương sau này … gặp lúc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây bị đói kém , thừa dịp dấy binh ( có chừng 30 000 người ) ở Kim Điền , tỉnh Quảng Tây , dùng khẩu hiệu  phản Thanh, diệt tham ô tàn bạo , khôi phục lại nhà Minh. Quân lính đều để tóc dài, tức chống lại Mãn Thanh; nhờ vậy mà thanh thế rất thịnh. Phong trào còn qui định ruộng đất,vàng bạc là của chung, chánh quyền phân phát, dân cùng nhau cày cấy, cùng ăn cùng mặc, có tiền thì cùng tiêu, người nào trữ 10 lạng bạc hoặc một lạng vàng thì bị trừng phạt. Đúng là chế độ cộng sản, lần đầu tiên Hồng Tú Toàn đem áp dụng ở Trung Quốc, nhưng chưa bao giờ thực hành được trọn vẹn ( chiếu theo Sử Trung Quốc Nguyễn Hiến Lê - 1983 ). Ngoài ra, chủ trương Thái Bình Thiên Quốc còn nghiêm cấm các thói xấu như thói đàn bà bó chân, thói hút thuốc phiện, uống rượu, đánh bạc, mua bán nô tì, nuôi nàng hầu; nam nữ bình quyền, cho đàn bà cũng thi cử như đàn ông, đàn bà cũng lấy một người đổ trạng nguyên v.v…
      Năm 1851, Hồng Tú Toàn tự xưng là Thiên Vương- Heavenly King , có 5 vương khác phụ tá. Năm 1852 , quân Thái Bình Thiên Quốc tiến đến phía Bắc Vũ Hán, vòng xuống sông Dương Tử và năm sau chiếm Nam Kinh. Viễn Chinh Thái Bình Thiên Quốc lên phía bắc Nam Kinh, bị đánh bại ở Sơn Đông năm 1855. Nhờ ba chỉ huy nhà Thanh tài giỏi là Tăng Quốc Phiên - Zeng Guofan( 1811- 1872)Tả Tông Đường- Zuo Zong Tang( 1812- 1885 ) và Lý Hồng Chương - Li HongZhang ( 1823- 1901 ). Tăng Quốc Phiên tái chiếm Vũ Xương - Wuchang năm 1855 , và đưa một binh thuyền xuôi sông Dương Tử, đe dọa Nam Kinh.  Cả ba nhà chỉ huy quân Thanh hiệp sức tái chiếm một cách có hệ thống vùng Trung tâm Trung Quốc,  do quân nổi loạn giữ chặc. Cả ba đều sử dụng phối hợp súng ống , tàu chiến và luyện quân theo kiểu Tây Phương. Thật ra còn nhiều yếu tố khác đánh bại Thái Bình Thiên Quốc. Dân chúng ghét Mãn Thanh , mới đầu do dự giữa Tăng và Thái Bình. Nhưng dần dần  ngã theo Tăng vì những lầm lỗi quá nặng, thất nhân tâm của Thái Bình ( cấm đạo Khổng, đạo Phật, cấm thờ phựợng tổ tiên , phá hủy chùa chiền …) . Thái Bình không đủ kiến thức để cai trị những vùng họ chiếm.  Giới trung nông lo ngại vì tái phân phối cưỡng bức ruộng đất. Quân đội Thái Bình thiếu lưu động vì không có kỵ binh - cavalry. Các cường quốc Tây Phương  đến lúc này, thấy Thái Bình đã suy nhược, có thể bất lợi cho việc làm ăn của họ nên ra mặt, đứng về phía Thanh đình. Năm 1862, khi thấy Thượng Hải bị đe dọa, một tên giang hồ Mỹ  là Tewsend Ward , nguyên quán ở Salem - Massachusetts, được sự ủng hộ tài chánh của thương nhân Thượng Hải, lập ra một đạo quân lẫn lộn binh lính Tây Phương và binh lính Tàu; khi chết tuyễn thiếu tá Anh Charles Goerge Gordon ( sau đó là Toàn quyền xứ Sudan , thuộc Anh ) thay thế, dẹp được Thái Bình chung quanh Thượng Hải, sau 3 năm thắng lợi , lấy lại được 50 thị trấn cho Mãn Thanh. Quân Ward - Gordon nổi danh là “ Thừa thắng Quân - Ever Victorious Army” . Có lẽ nguyên nhân lớn nhất làm suy tan Thái Bình là nội bộ các vương Thái Bình lục đục nhau .  Tháng 7 năm 1864, em trẻ tuổi của Tăng Quốc Phiên chiếm lại Nam kinh. Hồng Tú Toàn uống thuốc độc tự tử, chấm dứt Thái Bình Thiên Quốc . Các nhà lảnh tụ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc PRC hiện nay , rất tán thành nội loạn Thái Bình Thiên Quốc , vì thật sự có rất nhiều tương tự giữa phong trào này và phong trào Cọng Sản cận đại : cùng mục đích một trật tự xã hội lý tưởng, một lực lượng uy vũ bính lính nông dân , một lập trường tư tưởng khe khắc chống những giá trị Khổng giáo , một thán phục về kỷ luật và một cảm nghĩ quyết tâm và vận mệnh cao siêu xuống tận hàng ngũ binh lính, ít khi thấy ở Trung Quốc truyền thống. Tuy nhiên Vương Nghi, tác giả Trung Quốc Cận Đại Sử lại cho rằng chưa đủ nghiên cứu để đưa ra một phán đoán khách quan. Dù sao ảnh hưởng của Thái Bình cũng rất lớn. Chính cuộc chiến của Hồng Tú Toàn là bước đầu đưa tới cuộc Cách Mạng Tân Hợi ( 1911) nữa thế kỷ sau , cho dân tộc Tàu một ý niệm về nam nữ bình quyền, về chế độ cộng sản trước khi có cuộc cách mạng 1917 của Nga. Từ Tần Thủy Hoàng, bây giờ lại mới có một cuộc Cách Mạng thật sự để thay đổi hẳn một chế độ, chứ không phải chỉ để thay đổi một triều đại ( cũng chiếu theo Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, 1983 ) .
       Cùng lúc với loạn Thái Bình, nhiều nổi loạn khác nổi lên càng thêm đe dọa trào Thanh. Đảng Niệm-Nian ( 1953- 1868 ), một hội kín tổ chức như Bạch Liên Giáo , ở phía Tây kinh đào Vận Hà, từ sông Hoàng Hà tới sông Hoài, tại bốn tỉnh Giang Tây, An Huy, Hà Nam và Sơn Đông : liên kết với Thái Bình, cũng để tóc dài , tung hoành một thời nhưng không chiếm được một thị trấn nào quan trọng, không lập được một chánh phủ. Sau bị Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương dẹp năm 1868. Nạn Hồi giáo - Muslim ở Tây Bắc ( Thiểm Tây và Cam Túc ) nổi lên từ năm 1868 đến năm 1783 , và Hồi giáo cũng đã nổi lên ở Tây Nam - Vân Nam từ năm 1856 đến năm 1973. Ở Tây Bắc, Thanh đình dẹp được  loạn năm 1873,  thành lập tỉnh Tân Cương - Sin Kiang . Ở Quí châu, tộc dân Miêu ( Mèo ) lại nổi loạn như thời Càn Long, 18 năm mới dẹp được, nhưng dẹp xong thì Quí Châu bị tàn phá, gần như thành bình địa.Theo Vương Nghi ở sách kể trên, nếu kể luôn cả loạn Niệm, Hồi, Miêu, thổ phỉ dư đảng Thái Bình cướp bóc, chết vì nạn đói , chết vì bệnh dịch, Trung Quốc đã mất đi lúc này ít nhất là 100 triệu người. Còn hơn cả nạn hồng thủy ; trong lịch sử Trung Quốc chưa thời nào như vậy .
                      
                     Thời ban đầu cận đại hóa Trung Quốc

 
              Trước chiến tranh nha phiến, Mãn Thanh tự hào là Thiên Triều Đại Quốc, coi các nước Tây Phương là ngoại di, không thèm để ý tới. Nhưng khi liên quân Anh Pháp tới Bắc Kinh buộc phải ký điều ước nhục nhã với họ, Thanh Đình mới nhận là bọn ngoại di đó mạnh hơn mình nhiều và muốn chống cự với họ thì phải có tàu bè như họ, súng ống như họ, quân đội phải rèn luyện theo lối họ. Khâm sai Lâm khắc Từ , các nhà chỉ huy binh Thanh  tài giỏi như Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương và vài người Mãn như Cung Thân Vương , Quế Lương nghĩ đến “ Tự Cường - Self Strengthening “, công nhận giá trị của kỷ thuật Tây phương, đồng thời cũng vẫn còn tin tưởng vào tính cách ưu việt của văn hóa Trung Quốc và đời sống theo Khổng giáo . Vào thế kỷ thứ 19, các nhà lảnh đạo Trung Quốc không nhắm mục đích cận đại hóa toàn diện - radical modernization hay Tây phương hóa Westernisation hoàn toàn ở mọi lảnh vực . Suốt 40 năm cuối của thê” kỷ thứ 19,  triều nhà Thanh đã thấy tiến bộ to lớn ở nhiều lảnh vực . Đáng kể là   các công trình tiền phong theo kỷ thuật Tây phương, phần lớn liên hệ với sự nghiệp của Lý Hồng Chương. 
              Trước hết Lý và người đở đầu Lý là Tăng Quốc Phiên , mua súng ống trang bị cho quân Thanh và lập xưởng chế tạo võ khí ở Xuzhou- Từ châu, Nam Kinh và vài nơi khác. Những cơ xưởng nhỏ bé này sẽ được thay thế bằng cơ xưởng lớn ở Giang Nam, gần Thượng Hải năm 1865. Cơ xưởng Giang Nam, một trong những cơ xưởng lớn nhất thế giới , không những sản xuất súng ống, đạn dược, mà còn luôn cả máy móc khí cụ cho những tàu chạy hơi nước đầu tiên của Trung Quốc. Tả Tông Đường lập một cơ xưởng khác và một căn cứ hải quân ở Phúc Châu, với sự cộng tác của Pháp . Tiếp theo, Lý di chuyễn đến lảnh vực công nghệ dân sự và thương mãi. Lập ra Công ty Tàu Chạy Hơi Nước Con buôn Trung Quốc- China Merchants’ Steam Navigation Company, năm 1872, cạnh tranh không thua kém các công ty Anh Jardine, Matheson, và Butterfield và Swire trên sông , và dịch vụ dọc bờ biển . Hoạt động công ty này do “chánh phủ giám sát và thương gia thực hiện ”. Lý Hồng Chương được bổ nhiệm làm Tổng Đốc ở thủ phủ tỉnh là Thiên Tân từ năm 1870 đến năm 1895, giúp ông đủ thì giờ phát triễn ổn định nhiều doanh nghiệp công nghệ ở miền Bắc. Một mỏ than máy móc cận đại được khai thác ở Khải Bình sản xuất than cho tàu thủy chạy và một đường xe lữa để phân phối than đá và hàng hóa đến Thiên Tân, Sơn Hải Quan - Shanhaiguan gần biên giới Mãn Châu và Bắc Kinh. Phát triễn xe lữa chậm chạp , nhưng các đường điện tín ( báo ) - telegraph do Lý đề xướng và các chức quyền tỉnh nới rộng, cung cấp 34 000 dặm Anh ( trên 164 300 km ) đường liên lạc giữa nhiều thành phố lớn vào năm 1900. Các nhà máy dệt bông vải tiến hành chậm hơn và năm 1894 đã xây xong 5 nhà máy dệt bông vải. Các nối kết điện tín thoạt tiên rắc rối và tốn kém. Nông dân nghĩ rằng chúng làm hổn loạn “ Linh hồn Gió và Nước “ , và thật sự ký ức thời niên thiếu làm hiện lên kỳ bí không tên, liên quan đến đường dây điện tín kêu vo vo, cho nên họ đốn bỏ trụ cột điện tín. Giá trị bán lại các dây đồng có lẽ còn cũng cố thêm nhiệt tình thuần khiết hóa này. Chánh phủ đã phải phái một số binh lính bảo vệ các đường điện tín.
             Điều đáng lưu ý là ảnh hưởng Tây phương này rất ít thấm vào dân Tàu trung bình ở bất cứ làng xã hay thị trấn nào ở bên trong nội địa Tàu, suốt phần lớn thế kỷ thứ 19. Đời sống theo thể thức truyền thống, vẫn còn là tiêu chuẩn cho dân quê, kẻ buôn bán và ngay cả chức quyền nữa. Chỉ sau 1865, ảnh hưởng Tây phương mới bắt đầu nhận thấy được rộng rải, nhờ  sự lan tràn các hàng hóa Tây phương, du hành, và cư trú các giảo sĩ và nhiều người khác sâu vào nội địa, cũng như các di động dè dặt tiến về cận đại hóa đất nước của một vài chức quyền như Lý Hồng Chương. Một trong những nhóm hay cá nhân Tây phương ảnh hưởng mạnh đến dân Tàu là tổ chức hửu hiệu Sở Hải Quan ( Quan Thuế Biển )-  Maritime Customs Services và hai cá nhân bổ nhiệm làm Tổng Thanh Tra là H.N. Lay đã huấn luyện nhân viên Tàu cho cơ quan Hải Quan mới thành lập , Robert Hart và bộ tham mưu của ông giúp việc cho chánh phủ Tàu một cách siêng năng,vô tư , ngay thẳng . Sở Hải Quan không chỉ thâu thuế quan mà còn đảm nhiệm nhiều sứ mệnh khác thường liên quan đến dịch vụ bảo vệ duyên hải - coast guards , vét - đào kinh, hướng dẫn giao thông đường sông, chăm lo hải đăng, phao, bến tàu, các tiện nghi hải cảng, quản trị tài chánh có phần phức tạp. Khi phải bồi thường lớn sau cuộc Nổi loạn Võ Sĩ ( Nghĩa hòa Đoàn) - Boxer Rebellion, lợi tức  thuế hải quan không đủ , thuế muối và các thuế khác trong nước phải thêm vào để trang trải trả cho đủ mọi điểm thỏa hiệp, đều bị các nhà ái quốc Trung Quốc oán giận. Sử dụng mạng lưới hải quan và thêm vào đó những hệ thống tư nhân , năm  1896 , Hart thiết lập một sở bưu điện - postal service , biến thành bưu điện độc lập năm 1911. Triều đình Thanh hoàn toàn tin tưởng huân tước  ( chức mới được phong) Sir Robert Hart và thường thỉnh ý ông về nhiều vấn đề liên hệ đến ngoại giao .               
              Nhóm thứ hai giúp dân Tàu thân thuộc với phương thức Tây Phương là các thương gia - traders . Các hảng Anh, một số đã kể trên, hiện đang còn hoạt động ở Hồng Kông là Jardine, Mathelson và Butterfield and Swire, Dent and Company, Tổ hợp Ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải thành lập năm 1865. Hảng Mỹ nổi tiếng nhất là Russell and Company trở thành Công Ty Con Buôn Tàu chạy tàu thủy hơi nước đã kể trên, làm dịch vụ sông thành công mỹ mãn dọc sông Dương Tử, từ Thượng Hải đến Hán Khẩu. Theo quan điểm Tàu, nhân vật then chốt ở mỗi doanh nghiệp này không phải là giám đốc người ngoại quốc mà là nhà tư sản mại bản - comprador Tàu . Từ ngữ comprador nguồn gốc tiếng Bồ Đào Nha. Nhà mại bản này thuê và sa thải nhân viên Tàu, hành động như thể là người bảo lảnh cho họ, từ các thư ký  có học vấn và thông dịch viên ở sở làm,   cho đến lính bảo vệ và cu li các kho hàng. Khôn khéo sẳn có của doanh vụ Tàu, cọng thêm sự hiện diện các comprador, các thư ký của họ, khiến các công ty Tây phương nhận thức là khỏi cần và không có lợi nhiều  làm chi nhánh trong nội địa Tàu. Cơ sở trung ương của họ ở các thành phố hải cảng dư sức hoạt động, nhờ một mạng lưới phân phối mau chóng gồm toàn là người Tàu.
            Tác nhân thứ ba lan rộng nhất là  các nhà thờ và các giáo sĩ Thiên chúa Giáo.  Cơ đốc giáo La Mã - Roman Catholics khỏi sự thế kỷ thứ 19 với một số người theo đạo Cơ đốc tương đối lớn, có lẽ khoảng 150 - 200 000 tín đồ, sót lại từ các thời truyền giáo xưa cũ. Tin Lành- Protestants khởi sự truyền đạo khi giáo sĩ Robert Morrison đến Canton năm 1807, do hội Truyền Giáo Luân Đôn phái tới. Ông duy trì vị trí mình bằng cách làm thông dịch viên cho Công Ty Anh Đông Ấn và sản xuất  văn chương Thiên chúa giáo. Ông làm ra tự điển Tàu - Anh lần đầu tiên và dịch Kinh Thánh ra tiếng Tàu. Một đồng nghiệp được gửi đến giúp ông, nhưng bị cấm không được ở lại nước Tàu và phải rút lui về hải cảng Anh Malacca, để hoạt động chung với các người Hoa Kiều. Nhóm Tin Lành Hoa Kỳ đầu tiên là nhóm Giáo đoàn- Congregationalist, nhưng rồi rất nhiều nhà thờ Tin Lành khác cũng có mặt từ Anh, Mỹ đến lục địa Âu Châu. Các hội giáo Tin Lành ở Trung Quốc đếm đến 200 hội năm 1864, tăng lên 1300 năm 1890. Dân Tàu rửa tội theo Tin Lành chỉ chừng 55 000 năm 1893, nhưng năm 1914 đã trên 250 000. Dân Tàu rửa tội Cơ đốc La Mã cũng tăng thêm trong một thế kỷ từ 1812 đến 1912, đạt 1.4 triệu tín đồ năm 1912. Con số tín đồ chỉ kể ra một phần câu chuyện. Vào thập niên 1930, toàn thể tín đồ Tàu theo Thiên chúa giáo chỉ khoảng 1% tổng số dân Tàu lúc đó; thế nhưng ảnh hưởng của Thiên chúa giáo ở các nhà lảnh đạo Trung Quốc lớn hơn nhiều. Danh sách nhân vật lỗi lạc Tàu ở một lai lịch tương đương Who’s Who, kể ra tỉ lệ 16 %  theo đức tin Thiên chúa giáo.                                               
          Toàn thể đề tài công cuộc truyền giáo và tuyên truyền tôn giáo đã trở thành tranh luận mạnh mẽ, vì chuyễn hướng quan trọng dư luận thế giới  trong 50 năm vừa qua, và sự kính nể lớn hơn về di sản quốc gia. Vài thừa tố đặc trưng nổi bật được nêu lại ở sách này. Trước năm 1900, đa số các nhà thờ Tin Lành hoạt động ngay hay ở gần các thành phố hải cảng, trong khi các nhà thờ Cơ đốc giáo và nhóm Tin lành Phúc âm - Evangelist Protestant do Hudson Taylor thiết lập, đã đi sâu vào nội địa Tàu.  Nơi đó, các hiểm nguy chiến tranh, nổi loạn và đói kém, lớn hơn ở thành phố bờ biển nhiều. Cho nên các giáo sĩ đôi khi được các tàu chiến và các toán quân đội ngoại quốc cứu nguy. Pháp đặc biệt hổ trợ giáo hội Cơ Đốc ở Trung Quốc. Ngay cả Hudson Taylor, bị dân chúng đổ xô bao vây  gần Dương Châu, được 4 tàu chiến cứu thóat, do lảnh sự Anh ở Thượng Hải Rutherford Alcock phái đến để nhấn mạnh vụ sa thải viên chức địa phương Tàu vì cẩu thả. Dù lọng che chở đặc quyền ngoại giao - extraterritorial privileges  mất lòng dân, đôi khi cũng được sử dụng bao che, không những cho các giáo sĩ ngoại quốc mà còn cả các dân Tàu mới quy đạo nữa. Thật cũng khó khăn cho các giáo sĩ ngoại quốc mới chân ướt chân ráo đến Trung Quốc, phân biệt rỏ ai là quy đạo thật lòng và ai là các “ Con chiên xin cơm - rice Christians ”  đến nhà thờ hầu trốn thóat ra ngoài, khi tranh chấp với chức quyền địa phương. Tuy rằng điều này là biệt lệ hơn là thể lệ. Quyền làm chủ đất đai và các xây cất ở sâu nội địa Tàu, nới rộng cho người ngoại quốc theo điều ước Thiên Tân năm 1858, gây ra vô vàn khó khăn. Bồi thường Trung Quốc phải trả cho các xung đột liên quan đến các giáo hội và dân chúng Tàu địa phương từ năm 1862 đến năm 1869 lên đến 400 000 lượng bạc. Dầu sao cũng có nhiều thừa tố tích cực cho việc giáo hội đến Trung Quốc. Các trường giáo hội và sau đó các đại học như viện đại học Diên Kinh- Yanjing University ở Bắc Kinh và viện liên hệ Harvard -Yenjing , đã đóng góp đáng kể vào giáo dục Tàu, không những về hiểu biết Tây phương mà còn nâng cao tiêu chuẩn giáo dục Tàu cận đại. Trường học cho nữ giới ở Trung Quốc, cũng như ở nhiều quốc gia khác do các nhà thờ  tiền phong thiết lập. Bệnh viện mở đón mọi người, huấn luyện bác sĩ và y tá , đề xướng y tế công cọng, huấn luyện kỷ thuật công nghệ và nông nghiệp , tiến bộ khoa học tỉ như ở trung tâm danh vang Dòng Tên ở Tử gia hội - Xujiahui ( Zikawei ) gần Thượng Hải, thiết lập các viện mồ côi, các viện người mù và người điên, từ giữa thế kỷ thứ 19 đến Thế Chiến Thứ Hai , được nhìn nhận là những đóng góp của giáo hội Thiên chúa ở Trung Quốc .
       Ngoài các lợi lộc xã hội của Thiên chúa gíáo, rất nhiều dân Tàu tìm thấy trong đức tin “ mới” một kêu gọi tôn giáo, đang còn thiếu sót ở sân khấu Tàu đương thời. Khổng giáo càng ngày càng tỏ vẽ ít phù hợp khi đế quốc suy tàn dưới mắt dân Tàu  và tiếp theo là nạn sứ ( tướng ) quân - warlords, Đạo giáo - Daoism phổ biến đầy mê tín vô vọng và cả Phật Giáo , tuy là một tôn giáo sâu sắc, vẫn không được ưa chuộng vào thế kỷ thứ 19 ở Trung Quốc hay soi sáng bằng tư tưởng mới mẽ như thể Thiên Chúa giáo lúc đó. Các tín đồ Tàu Thiên chúa giáo đóng một vai trò quan trọng về Cuộc Cách Mạng 1911. Các giáo sĩ dần dần thành công rời ra khỏi sự phụ thuộc các sứ quán giúp đở và cũng cách ly dần với chánh sách các chánh phủ nguyên quán mình . Nhưng giáo hội Thiên Chúa hiện nay cũng chưa đủ tính cách Đông Phương hơn là khoát ngoài y phục Tây Phương trên phương diện âm nhạc, kiến trúc và nghệ thuật , những chuyễn giao quyền uy và xử lý tài chánh cho dân địa phương kiểm soát, một thủ tục nay áp dụng tại mọi quốc gia, đã thực thi ở Trung quốc từ năm 1930. Chính ngay các thành công vươn  xa về xã hội của Thiên Chúa Giáo ở Trung Quốc,  đã gây ra thù hận ở giới quí tộc học giả Tàu - chinese scholar gentry class . Họ có cảm tưởng là các lảnh địa đặc quyền ưu đải và các trách nhiệm ngàn xưa để đề xướng lập trường học, viện mồ côi , cứu tế nạn đói,  và các dịch vụ cộng đồng khác, bị xâm chiếm.
       Nhóm cuối cùng đáng lưu ý về tương tác giữa Trung Quốc và Tây Phương là các nhà thực vật học - botanists. Nhà thu thập Anh đầu tiên là một bác sĩ mỗ xẽ, James Cuningham, sống ở Trung Quốc từ năm 1698 đến năm 1708. Cây cỏ Trung Quốc , song song cùng các đồ vật  dụngTàu khác, trở thành thời trang. Nhà thiên nhiên học Huân tước Sir Joseph Bank ( 1743 - 1820 ) đem về vườn ông ở Anh hàng tháng,  từ Trung Quốc các hoa hồng - rose, tổ tiên của mọi loại trà hồng - tea rose cận đại, mẩu đơn cây mộc - tree peony, và cúc. (Cúc Tàu được Hòa Lan đem về nước đầu tiên, nhưng các dòng cúc này đều chết trọi ). Sau Chiến tranh Nha phiến đầu tiên, nhà thực vật học Tô Cách Lan Robert Fortune được gửi sang Trung Quốc với mục đích thực vật học và đem về Anh các loài hoa hoa xuân - anemones, hoa chuông - forsythias, đổ quyên - rhododendrons , thông lọng - umbrella pines, và nhiều loài cây khác, hoa ông lảo - clematis , cúc đồng tiền - astersgiả đổ quyên - azaleas. Hoa đậu tía Tàu - Chinese wisteria trồng ở Chiswick năm 1818 , nay còn nở rộ , sau hơn một thế kỷ . Đầu thế kỷ thứ 20, một trong những nhà thám hiểm lớn của thực vật học thế giới là E . H . Wilson , làm một công trình nghiên cứu toàn diện vương quốc thực vật miền Tây Trung Quốc. Lối đi không phải một chiều. Vì rằng các nhà thực vật học Tây phương không phải chỉ đem cây cỏ ra khỏi Trung Quốc, mà còn đem hiểu biết huấn luyện một thế hệ học giả thực vật học Trung Quốc,   đủ khả năng xây đắp tươi mới một truyền thống ghi chép , minh họa, khảo nghiệm quá khứ Trung Quốc .

 
                  Đế quốc chấm dứt .

 
             Hai thập niên từ đầu thập niên1890 đến năm 1911 , còn chứa đọng dư âm của liệt cường tấn công Trung Quốc và nổi loạn nội địa thế kỷ thứ 19. Tan rã hàng ngũ càng hoàn toàn thêm vì trung tâm quyền lực ở triều đình Bắc Kinh đã phần lớn mất hết liên lạc với phần Trung quốc còn lại. Vài lảnh tụ địa phương cố gắng cải thiện xã hội đã nêu trên, cố lĩnh hội thế giới bên ngoài và tung ra nhiều biện pháp để thõa mãn tình trạng căn bản, triệt để mới mẽ. Thanh đình cũng có vài chức quyền thấu triệt tình hình như Cung Thân Vương Dịch tố- Prince Gong, em vua Hàm Phong - Xian Feng (ở ngôi vua 1851- 1962 ) , nhưng đa số đại thần nguồn gốc Mãn Châu và nguồn gốc Tàu vừa mù quáng , vừa phản động, kể luôn cả các thái giám và chức quyền cung đình, đều có quyền lợi to lớn mong muốn tiếp tục nguyên trạng.
           Thủ lảnh các lực lượng phản động là Từ Hy Thái hậu- Cixi empress dowager ( 1835- 1908 ).  Từ Hy nguyên chỉ là thứ phi, vào cung năm 16 tuổi , nhưng chiếm dần quyền bính, vì là mẹ đẻ của vua Đồng Trị - Tong Zhi, khi Hàm Phong chết . Từ Hy là một nhà chính trị cơ , nhiều bản lảnh, thông minh, nhưng kiêu xa, dâm dật, không điều gì là không dám làm - vô sở bất vi để đạt mục đích , tính tình thất thường, lúc rộng lượng , lúc hiền hậu , lúc tàn nhẫn vô cùng. Bà sủng ái hai Thái giám; lợi dùng danh nghĩa bà mua quan bán tước làm chánh trị Thanh đình thêm hủ bại. Tuy Từ Hy ít hiểu tính chất ảnh hưởng Tây phương ở Trung Quốc , nhưng ý thức chánh trị giúp bà thấy rỏ giá trị của Cung Thân Vương, cố gắng điều hướng khôn ngoan thực thi các điều ước ngoại quốc và của Lý Hồng Chương, cố tâm chấp nhận nhiều khía cạnh của kỷ thuật Tây phương.
           Đồng Trị ( 1962- 1875 ) hoàn toàn bị mẹ là Từ Hy chủ trì, chết năm 19 tuổi và   nối nghiệp là Quang Tự- Guang Xu ( 1875- 1908 ), con của em Từ Hy, lúc lên ngôi mới 4 tuổi và thân chính năm 1981, tuy thực quyền đều trong tay Từ Hy . Hợp tác giữa Từ Hy và Lý Hồng Chương mật thiết hơn là với Prince Gong - Dịch Tố . Lý là anh hùng dẹp loạn Thái Bình Thiên Quốc và triều đình Thanh tiếp tục tán thưởng nhờ Lý có khả năng mặc cả lợi nhất cho Trung Quốc với ngoại quốc. Tuồng như Lý cũng có khả năng  lợi dụng ưu điểm sáng tạo Tây phương, trong khi đó vẫn trung thành với triều đình và đặc biệt với Từ Hy Thái hậu. Tiến bộ về hải quân Trung Quốc cung cấp một thí dụ về sức mạnh cũng như yếu kém của Lý. Trung Quốc thời đó có 4 hạm đội riêng biệt, căn cứ tại Quảng Châu, Phúc Châu, Thượng Hải và Thiên Tân. Hạm đội Bắc Dương- Beiyang ở Thiên Tân, Lý lúc đó làm Ủy viên Chánh phủ, nhận được nhiều tài trợ hơn hết và mạnh nhất. Nhưng năm 1890, ngân khoản cạn đi. Từ Hy, do Thái giám bà sủng ái khuyến khích, đang xây cất vườn Di Hòa, Cung Đình Mùa Hè Mới- New Summer Palace ở ngoại ô Bắc Kinh , dùng kinh phí của Hải Quân Nha Môn , với sự đồng lõa của Lý Hồng Chương. Tàu chiến duy nhất làm ra bằng cẩm thạch, chưa bao giờ ra khỏi mép  hồ vườn Thượng Uyễn. Hạm đội Bắc Dương không có thêm hay thay thế một tàu chiến nào cả thảy .
              Vào lúc này Nhật bổn tấn công. Sau mùa hè năm 1894, Nhật kiểm soát Nam Triều Tiên và thủ đô Hán Thành - Seoul . Nhật chiếm thêm Bình Nhưỡng- Pyongyang ở miền Bắc tháng chín 1894.   Trung Quốc đặt hy vọng vào hạm đội Bắc Dương, đang   tiến tới cửa sông Áp Lục - Ya Lu. Tổng số tàu chiến Trung Quốc nhiều hơn, nhưng chỉ có một mình hạm đội Bắc Dương tham chiến. Tàu Nhật nhỏ hơn, ít hơn nhưng chạy mau hơn ,súng ống cũng ít hơn nhưng mạnh hơn, và nhất là chiến thuật Nhật giỏi hơn và huấn luyện thủy quân cũng thành thục hơn . Đánh chìm , làm hư hại nặng tàu chiến Trung Quốc, trong khi tàu Nhật chỉ hư hại nhẹ . Hạm đội Nhật đuổi chạy các tàu Trung Quốc còn lại về Uy Hải Vệ - Weihaiwei ở Sơn Đông và sau đó đánh tan tành hết. Kế đến Nhật chiếm Lữ Thuận - Port Arthur đánh từ đất liền như sẽ chiếm Singapore sau này, vì mọi đại bác đều chỉa ra biển ở các quân cảng. Lý hồng Chương già nua , bị bắt buộc phải xin nghị hòa với đại diện Nhật là Hirobumi, mùa xuân năm 1895, ở Mã Quan - Shimonoseki. Hòa ước rất nặng nề cho Trung Quốc: chấp nhận cho Triều Tiên Độc lập ( Nhật xáp nhập Triều Tiên nay gọi là Cao Ly, năm 1910 ), nhượng Đài Loan, đảo Bành Hồ - Pescadores, và bán đảo Liêu Đông -Liao dong, một điều ước thương mãi lợi cho Nhật, mở thêm nhiều hải cảng và một ngân khoản bồi thường to lớn. Nga, Đức, và Pháp phối hợp buộc Nhật phải rút lại yêu cầu chiếm bán đáo Liêu Đông, dùng một ngân khoản bồi thường thay thế.
             Chiến tranh Trung Nhật 1894 - 1895 là một bước chánh về sự xói mòn chầm chậm toàn vẹn lảnh thổ Trung Quốc, càng nặng thêm mãi cho đến Thế chiến Thứ Hai . Nó cũng là một nền tảng ngoạn mục cho những cố gắng cận đại của hai nước Trung Quốc và Nhật bổn, được mọi quốc gia liên hệ nhìn xét kỷ lưỡng. Trung Quốc đã đầu tư những ngân khoản khổng lồ  để phát triễn hải quân và quân đội , xây đắp kỷ thuật võ khí của mình lớn hơn và sớm hơn Nhật. Nhưng nếu so sánh đôi bên   ở cuối thế kỷ thứ 19, Nhật trổi dậy thành một quốc gia mạnh mẽ hơn. Nhật có ưu điểm là được một chánh phủ hướng dẫn và quy hoạch trung ương ; trong khi những cố gắng Trung Quốc thành công lẽ tẽ  qua các chức quyền địa phương, với rất ít hổ trợ và phối hợp của triều đình Mãn Thanh trung ương. Cận đại hóa Nhật tính toán kỷ lưỡng, Trung Quốc miễn cưỡng .Sinh viên Nhật hưởng lợi nhiều nhờ huấn luyện. Sinh viên Trung Quốc thông minh không kém, thường bị lập lờ - nước đôi và không đủ thẩm quyền chánh thức cản trở. Một lục quân và hải quân để bảo vệ hửu hiệu quốc gia cận đại, đòi hỏi quốc gia phải có nền móng, trụ đở, không những một công nghệ phức tạp tròn trĩnh, mà còn cả một loạt ý kiến về giáo dục, luật pháp và hành chánh cai trị, sống còn được trên liên hệ ngoại giao chung thế giới. Ngược lại, Trung Quốc lúc bấy giờ tuy kích thước đồ sộ, sức mạnh tiềm tàng và trí thức lỗi lạc,  bị vấp ngã trên sân khấu, cận đại hóa chỉ dần dần, từng phần , không hề có thống nhất lảnh đạo cũng như  không có một chánh sách phối hợp.
          Trung Quốc thất bại nảo nề, nhục nhã ở Triều Tiên năm 1895, mở đầu cho một loạt yêu cầu ngoại quốc về nhượng địa, trong đó liệt cường lúc này: Đức, Nga, Anh  và Pháp có vẽ sẳn sàng xâu  xé Trung Quốc. Nó cũng làm lan tràn làn sóng sốc trong giới trí thức nhà văn - literati class. Khang hửu Vi-Kang youwei ( 1858- 1927 ) lợi dụng cơ hội để đưa cải cách lên một bực thang mới. Khang phát triễn một giải thích Khổng giáo đáng giật mình, căn cứ phần nào vào  truyền thống Tân Thư - New Text tradition , có từ đời Hán, biện cứ rằng mọi sáng kiến cải cách để Trung Quốc có cơ chống trả Tây phương đều có sẳn trong di sản quốc gia. Năm 1889, khi Từ Hy rút lui về Di Hòa, Quang Tự mời Khang, một số môn đệ ông , đáng kể nhất là Lương Khải Siêu - Liang Qichao và một số nhà cải cách của nhóm Vận Động Duy Tân đế bàn luận việc nước. Quang Tự quyết ý thi hành biến pháp Lương Khang đề nghị, khẩu hiệu là “ toàn biến , tốc biến- thay đổi triệt để và mau ”. Phe bảo thủ triều đình chống đối mảnh liệt. Tháng chín năm 1898, Thái Hậu Từ Hy cho là cơ hội đã chín mùi, trở lại nắm quyền, mau lẹ bắt Quang Tự và xử tử sáu nhà cải cách ( Lục quân tử ) . Khang Hửu Vi và Lương Khải Siêu được mật chiếu của Quang Tự trước, đã trốn khỏi Bắc Kinh, chạy đến Hồng Kông. Còn Lương Khải Siêu khi việc xảy ra,  mới trốn sang Nhật bổn. Hết thảy tân chính đều bị bài xích . Đó là cuộc chính biến năm Mậu Tuất , chánh phủ Cải Cách sinh tồn được một trăm ngày, từ 10 tháng 6 đến 20 tháng chín năm 1898 ( theo Trung Quốc Sử Cương -1958 ).
       Đàn áp cưỡng bách cải cách ở triều đình không chửa trị được căn bệnh toàn thể khắp nước. Nổi loạn tái xuất dưới cờ  của Nghĩa Hòa Đoàn - Yi He Quan ( the Righteous and Harmoniuos Fists ), thường được gọi là Vỏ Sĩ - Boxers. Dư đảng sang miền Nam Việt Nam tá túc thường được gọi là bọn “Sơn Đông Mãi Võ ” , những người Tàu cao lớn, lực lưỡng, biết võ, biểu diễn và bán vài thứ thuốc hoàn để xoa bóp, trị gãy tay, trật gân …trước Thế Chiến Thứ Hai. Khởi sự ở Sơn Đông năm 1898, quân Nghĩa Hòa Đoàn tràn khắp miền Bắc Trung Quốc, tấn công đường xe lữa, xưởng máy và các tiệm bán hàng ngoại quốc. Họ giết hại một số giáo sỉ và rất nhiều tín đồ Thiên chúa giáo Tàu. Sơn Đông là một tỉnh Trung Quốc, nôi phát sinh cách mạng từ thuở ban đầu lịch sử Trung Quốc. Đây cũng là nơi xâm lăng ngoại quốc đáng chú ý đặc biệt, vì Đức Quốc đã bảo đảm hải cảng Giao Châu - Jiaozhou  và nhượng địa làm đường xe lữa, trong khi Anh Quốc dùng Uy Hải Vệ làm căn cứ hải quân. Tỉnh trưởng Mãn Châu khuyến khích nhóm Boxers, nhưng khi ngoại quốc phản đối, Thanh đình cử một tỉnh trưởng mới Viên Thế Khải- Yuan shikai thì Viên thay đổi chánh sách, đuổi quân nổi loạn ra khỏi tỉnh. Thái độ lập lờ của Thanh đình thấy rỏ trong sự kiện là nguyên tỉnh trưởng Sơn Đông được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Sơn Tây, sau đó ông có mặt khi xử tử 46 người ngoại quốc, đa số là giáo sĩ Thiên Chúa giáo. Tháng 6 năm 1900, quân Nghĩa Hòa Đoàn hợp với đại binh Thanh đình tấn công các sứ quán trong 8 tuần lễ. Đô đốc Anh đem 2000 quân các nước từ Thiên Tân đến Bắc Kinh để cứu các sứ quán , giữa đường bị Nghĩa Hòa vây đánh, phải rút lui. Thanh đình lại xuống chiếu mộ thêm quân Cần Vương, truyền hịch cách “ đuổi giết ngoại nhân ”. Tám nước Anh , Pháp , Đức , Ý , Mỹ , Nhật, Áo,  Nga họp quân đội ( một nữa quân số là Nhật ), cử thống chế Đức bá tước Alfred Von Waldersee thống lĩnh,   đánh tan vỡ hết các đạo quân Thanh và giải vây các sứ quán Bắc Kinh ngày 14 tháng 8. Liên quân vào tha hồ cướp bóc, đốt phá, hiếp dâm , còn tàn nhẫn hơn  bọn Quyền phỉ nhiều. Từ Hy cải trang trốn vào Tây An, bắt Quang Tự theo bà. Rất nhiều bảo vật trong cung, bị liên quân đem đi. Hòa Ước nhà Thanh phải ký năm sau 1901, thật là thảm hại cho Trung Quốc : ngoài  450 triệu lạng bạc bồi thường; Trung Quốc phải trừng trị các quan đã gây ra tai hại, người thì phải tự tử , kẻ thì phải phát vãng sang Tân Cương;  trong khu vực ranh giới các sứ quán tự quản lý và được đặt quân đội để phòng thủ, triệt bỏ pháo đài Đại Cổ, và 12 pháo đài khác từ kinh sư tới biển v.v…( theo Nguyễn Hiến Lê - 1983 ). Một thành quả hòa ước không viết ra còn lại tệ hại hơn nữa cho Trung Quốc. Đó là việc Nga chiếm đóng thực sự Mãn Châu , làm Nhật hốt hoảng và bị trêu tức, mầm mống chiến tranh Nga - Nhật 1904- 1905.
       Bừng dậy Nghĩa Hòa Đoàn rỏ ràng minh bạch là cải cách cần thiết , và nhiều chương trình khởi sự và tắt ngũm trong “Một Trăm Ngày năm 1898”,   lại được thực thi riêng biệt từ năm 1901 đến năm 1910: thiết lập những bộ cận đại trong nội các, cải cách giáo dục, bỏ việc thi tuyễn công chức, xuất bản một ngân sách quốc gia hàng năm từ 1908, tạo lập nghị viện cấp tỉnh và ban hành một bộ luật quốc gia mới .
     Tuy nhiên, triều đại Mãn Thanh với hệ thống đế vương, kéo dài đã 2 000 năm, sắp chấm dứt. Từ Hy chết năm 1908. Một ngày trước khi bà chết, vua Quang Tự cũng chết. Nhưng bà đã lập thêm một vua trẻ em , hoàng đế Phổ Nghi- Pu Yi , mới 3 tuổi. Phổ Nghi làm vua ngắn ngũi  vì Cách Mạng ngày “ Song Thập ”  10 tháng 10 năm 1911. Ngày 12 tháng 2 năm 1912 , vua trẻ em Phổ Nghi thoái vị.

 
Tiếp theo : III - Cách Mạng Cộng hòa  1900- 1949          
 
  Số lượt bạn đọc kể từ 01/9/2009 292611 visitors (1184486 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=