TRUNG HỌC NNG LM SC CẦN THƠ
  Môi trường Cần Thơ
 

Lên mạng ngày 03/9/2009

10 NĂM MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ (1999-2008).
Thạc sĩ Kỷ Quang Vinh
Cần Thơ đang cùng đồng bằng sông Cửu Long và thế giới biến đổi nhanh chóng. Thế giới đang ngày càng nóng hơn và kéo theo đó là sự biến đổi khí hậu theo chiều hướng gây nhiều bất lợi cho loài người. Không những nóng lên, thế giới ngày càng chật chội hơn với khoảng 6,5 tỷ người hiện nay mà còn có thể tăng lên 9 tỷ người đến 2050, đều này cho thấy việc cung cấp đầy đủ lương thực cho thế giới trong tương lai là một việc làm gần như bất khả thi.
Hậu quả tất yếu của sự biến đổi trên của thế giới là sự thay đổi quan điểm sống nói chung và về việc BVMT nói riêng. Từ khái niệm “Phát triển bền vững” mang tính chất trừu tượng và không thực tế của thập niên 90 ở thế kỷ trước, sang khái niệm nền “Kinh tế xanh” với các tiểu chí cụ thể, dễ hiểu và không quá khó để thực hiện của thập niên đầu thế kỷ hiện hành. Những tiêu chí đó yêu cầu loài người: hạn chế và đi đến chấm dứt việc sử dụng nguồn năng lượng bẩn (than, dầu, gas, gỗ, thậm chí là thủy điện.. và phát triển việc cung cấp nguồn năng lượng sạch (điện mặt trời, năng lượng tái tạo, địa nhiệt, thậm chí là năng lượng hạt nhân..); sử dụng ngày càng hiệu quả các nguồn năng lượng và tài nguyên; sản xuất và sử dụng với hiệu quả ngày càng cao các loại sản phẩm hàng hoá tiến đến không còn chất thải; phải ngày càng ít tác động đến tự nhiên và môi trường đi đến việc khôi phục tự nhiên, trả lại cho trái đất sự đa dạng sinh học cần thiết..
 
ĐBSCL đang biến đổi xấu đi do tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu và do tác động của các hoạt động của con người. Khí hậu và thủy văn của ĐBSCL cũng đang thay đổi. Nhiệt độ không khí tăng, thêm vào đó là diễn biến thất thường của chế độ thủy văn sông Cửu Long. Mùa lũ có vẽ đến sơm hơn, ngập thấp hơn và rút chậm hơn. Lưu lượng nước giảm đã tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập sâu vào đất liền, năm 2009 chứng kiến sự nhiễm mặn của Thị xã Vị Thanh tỉnh Hậu Giang và Huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ. Cùng một diễn biến như thế giới, sau các biến động khí hậu và thủy văn là sự gia tăng dân số. Mật độ dân cư của ĐBSCL hiện nay hơn 400 người/km2 gấp đôi mật độ của cả nước. Đưa đến tiêu thụ nhiều hơn, khai thác nhiều tài nguyên hơn, sản xuất phải nhiều hơn và chất thải cũng nhiều hơn gây cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Trong hoàn cảnh đó thì nhận thức và thực hành của người dân về phát triển bền vững chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, mơ hồ, nên việc nhận thức về nền kinh tế xanhthì càng vô vọng hơn nữa.
 
Thành phố Cần Thơ cũng đang trong giai đoạn phát triển và biển đổi cực kỳ nhanh chóng. Trong thời gian 10 năm vừa qua, xem xét số liệu của Cục thống kê thành phố Cần Thơ, chúng ta có các diễn biến về tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường của Cần Thơ như sau:
1-Diễn biến tự nhiên: Không nằm ngoài ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, theo báo cáo của Liên Hiệp quốc năm 2007, Việt Nam trong đó có đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Cần Thơ là một trong 5 vùng đất của thế giới bị ảnh hưởng nặng nhất của hiện tượng biến đổi khí hậu có nguyên nhân là do con người. So sánh số liệu từ năm 1999 đến năm 2008:
-Nhiệt độ không khí trung bình của Cần Thơ tăng 0,2oC,
-Số giờ chiếu sáng tăng 200 giờ,
-Ẩm độ tương đối của không khí giảm bớt 2%,
-Lượng mưa cả năm giảm 200mm
-Trong khi trong khi mực nước cao nhất tại Tân Châu, đầu nguồn nước sông Cửu Long của VN, giảm gần 1m kể từ năm 2000 đến nay, thì trạm đo nước tại Cần Thơ cho thấy có sự gia tăng gần 0,2m, gây ngập lụt ngày càng trầm trọng cho khu vực nội thị như  quận Ninh Kiều.
 
Bảng Diễn biến mực nước tại Cần Thơ từ 1996-2007 (Mốc cao độ Hòn Dấu)
Mã Trạm: 651
Trạm: Cần Thơ
Năm
Htb năm(cm)
Hmax năm (cm)
Hmin năm (cm)
1996
39
173
-135
1997
37
184
-135
1998
28
167
-133
1999
42
179
-136
2000
50
179
-122
2001
47
190
-131
2002
46
195
-130
2003
38
183
-130
2004
36
193
-142
2005
39
195
-140
2006
43
199
-137
2007
45
203
-125
                                                Nguồn: Trung tâm Thủy văn sông Cửu Long
-Lưu lượng cao nhất của sông Hậu chỉ còn khoảng 15.000m3/giây so với lưu lượng trước đây là 20.000m3/giây; và lưu lượng thấp nhất của sông Hậu chỉ còn 1.200m3/giây so với 2.500m3/giây.


Nguồn: Trung tâm Thủy văn sông Cửu Long và Cục thống kê Cần thơ
 
2-Diễn biến tình hình sản xuất và đời sống
-Mật độ dân số: Sau 10 mật độ dân số phát triển từ 651 lên 836người/km2, tăng 28,4%. Trong khi đó cả nước chỉ tăng 11% và đồng bằng sông Cửu Long tăng hơn 6 %. Bình quân mỗi người dân có 1.196m2 đất tự nhiên.
-GDP bình quân đầu người: Từ 1999 đến 2008 GDP bình quân đầu người của Cần Thơ  tăng lên hơn 11,3 triệu đồng(tính theo giá cố định năm 1994) tăng hơn 3 lần; và gấp 1,5 lần GDP bình quân đầu người của ĐBSCL và hơn gấp 2 lần GDP bình quân đầu người của cả nước. Trong đó giá trị sản xuất thủy sản tăng hơn 7 lần trong 10 năm. Nếu tính theo giá trị sản xuất thủy sản bình quân đầu người thì mức tăng hơn 11 lần.
-Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người: năm 2008 đạt 713USD/người. Như vậy, trong 10 năm giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của Cần Thơ tăng 5 lần. Mức xuất khẩu bình quân đầu người của Cần Thơ có giá trị hơn gấp 2 lần mức xuất khẩu bình quân đầu người của đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của Cần Thơ thấp hơn của cả nước.(?)


Nguồn: Cục thống kê Cần Thơ
-So sánh 4 thành phố trực thuộc trung ương còn lại(Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà nẳng, Hải Phòng): sự phát triển của vài yếu tố kinh tế chính giữa 5 thành phố trực thuộc trung ương, cho thấy thành phố Cần Thơ còn nặng về sản xuất nông thuỷ sản và xuất khẩu hàng hoá dạng thô, giá trị thấp.

 

Các biểu đồ trên cho thấy:
-Cần Thơ có mật độ dân đứng hạng 4/5, chỉ cao hơn Đà Nẳng
-Mức bán lẻ bình quân đầu người thấp đứng hạng 4/5, chỉ cao hơn Hải Phòng
-Mức giá trị sản xuất bình quân đầu người của Cần Thơ lớn, đứng hàng thứ 2/5, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh.
-Trong 5 thành phố thuộc trung ương, Cần Thơ có sự đóng góp của khu vực 1 vào GDP lớn nhất 15%. Giá trị sản xuất bình quân của lúa và nuôi thủy sản, đứng hạng 1/5. Hai khu vực 2 và 3 của Cần Thơ có tỷ lệ đóng góp vào GTSX nhỏ nhất trong 5 thành phố, đứng hạng 5/5.
-Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người cũng thấp đứng hạng 5/5.
3-Chất lượng nước mặt:


Biểu đồ Diễn biến COD trong nước mặt
 
Trong 10 năm hàm lượng COD trung bình trong nước mặt tăng từ khoảng 7mg/l lên 15mg/l, hơn gấp 2 lần, và vượt mức Qui chuẩn chất lượng nước mặt cho phép.


 
Nitrit (NO2-N) có giá trị từ 0,009mg/l lên 0,027 mg/l vượt mức cho phép của quy chuẩn nước mặt cột A1 (QCVN 08:2008/BTNMT, 0,01 mg/l). Tăng trung bình 0,02mg/l/10năm
Amoni (NH4+-N) có giá trị từ 0,129 mg/l lên đến 0,742mg/l vượt mức cho phép quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước mặt A1 (QCVN 08:2008: 0,05 mg/l loại A1). Tăng trung bình 0,5mg/l/10năm.


 
Như vậy, ta có thể kết luận trong 10 năm gần đây, dù điều kiện tự nhiên có diễn biến bất thường; dân số tăng lên; tài nguyên của thành phố không nhiều nhưng cộng đồng xã hội thành phố Cần Thơ có những bước phát triển rất mạnh về sản xuất nâng cao đời sống. Tuy nhiên sự phát triển kinh tế còn dựa vào nông thủy sản và xuất thô nên giá trị gia tăng không cao, không có tính bền vững dễ gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, theo tính toán của chúng tôi chỉ cần mỗi người dân đóng góp 6% thu nhập của mình vào nguồn quĩ BVMT thì toàn bộ rác, nước thải của thành phố sẽ có đủ nguồn vốn để xử lý làm sạch.
4-Chất lượng nước ngầm: Nước ngầm thường xuyên bị ô nhiễm bởi Coliform với mức độ vượt qui chuẩn QCVN 09: 2008/BTNMT từ vài trăm đến vài ngàn lần. Đặc biệt trong thời gian gần đây nước ngầm có dấu hiện bị thông tầng do ô nhiễm hữu cơ. Đặc biệt mức nước ngầm bị giảm đều hàng năm. Theo một nghiên cứu của Đại học Bochum, thuộc nước Đức, tại KCN Trà Nóc nước ngầm bị giảm đến 0,7m/năm.
5-Chất lượng môi trường không khí: Bầu không khí theo trục giao thông đang có biểu hiện ô nhiễm do bụi trong không khí; các khí NO2, SO2 đang có khuynh hướng gia tăng gần với mức giới hạn tối đa cho phép. Thêm vào đó tiếng ồn tại các nút giao thông chính như vòng xoay bến phà, ngã ba Lý Tự Trọng-Trần Hưng Đạo.. vào giờ cao điểm đều vượt mức cho phép.
6-Rác đô thị: Lượng rác hàng ngày tại Cần Thơ khá cao. Bình quân mỗi người thải ra 0,7kg rác tươi/ngày. Lượng rác tổng cộng toàn thành 843tấn/ngày. Nhưng theo công ty Công trình đô thị và công ty Dịch vụ rác tại các địa phương thi lượng rác thu gom được chỉ khoảng hơn 50%. Trong đó rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm khoảng 80%, Nilon nhựa chiếm 13% còn lại là các thành phần khác. Rác thu gom khá tốt, nhưng lại không được xử lý đúng kỹ thuật môi trường và đang gây nhiều bức xúc về ô nhiễm cho cộng đồng dân cư quanh bãi rác.
Như vậy, trong vòng 10 năm qua cả thế giới bao gồm thành phố Cần Thơ đang biến đổi rất nhanh chóng về các mặt tự nhiên, xã hội và môi trường. Các biến đổi này chỉ dựa vào qui luật của cuộc sống thực tế, hoàn toàn nằm ngoài ý muốn của con người và đặc biệt càng hoàn toàn nằm ngoài các tư tưởng chính trị.
Một nhà kinh tế lỗi lạc đã nói: “Nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp thất bại vì không tôn trọng sự thực về thị trường. Nhưng nền kinh tế thị trường sẽ thất bại vì không tôn trọng sự thật về tài nguyên và môi trường”. Mong rằng tất cả những người ở phe này hay phe khác, đang vô tình hay cố ý dựa vào những học thuyết, giáo điều chính trị cứng nhắc đã có hàng trăm năm, ngây ngô, lỗi thời(vì không tính đến qui luật của cuộc sống), nhận thấy rõ được điều này.
Thách thức thực sự đe doạ sự tồn vong của thành phố Cần Thơ nhỏ bé, hay của cả Thế Giới to lớn thực ra là sự biến đổi khí hậu toàn cầu, là sự sa mạc hoá và ô nhiễm môi trường, là không còn cái bánh nào để chia, chớ không phải là nên chia bánh thế nào cho đều.
Đó là một thách thức thật sự to lớn, một thách thức sống còn mà loài người chưa từng có kinh nghiệm, cũng như chưa đủ trình độ khoa học-công nghệ để giải quyết, một thách thức đòi hỏi cần sự tập trung sức lực và trình độ của cả thế giới để giải quyết.
Ôi chao, sự toàn cầu hoá của tinh thần đoàn kết thật sự cần thiết cho tình hình của loài người hiện nay biết bao!

Trở lại Trang Khoa Học
 
  Số lượt bạn đọc kể từ 01/9/2009 292476 visitors (1183536 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=