TRUNG HỌC NNG LM SC CẦN THƠ
  Thái Nguyên
 
Lên mạng ngày 27/1/2010
Thô thiễn lạm bàn phát triễn tỉnh Thái Nguyên
G S Tôn Thất Trình
                                                                                   
            … Chè Thái ( Nguyên ) - Gái Tuyên ( Quang ) …, ( câu  cửa miệng lưu truyền trong cộng đồng những người Bắc “ thích lang thang “ ). 
            “ … Ai ( kiều nữ xứ Tuyên , hậu duệ cung tần mỹ nữ nhà Mạc ? ) qua bến nắng vàng
                    Lặng nhìn màu nước sông Lô trôi..                 
             ( Trường Ca Sông Lô  nhạc sĩ Văn Cao  1923 - 1995 )

 

 
Phần I : Khái quát
           
Vị trí :
 
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam. Bắc giáp Bắc Kạn, Nam giáp thành phố Hà Nội , Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4 542.6 km2 .. Dân số năm 1991 là 935 000 người , 1999 là 1 046 000 người; 2004 là 1 095 000 người. Trung bình mỗi năm tăng thêm 14- 15 000 người .  Nam 2010 có lẽ đã gần 1200 000 người.Tuy vậy,Thái Nguyên  vẫn là một tỉnh nhỏ diện tích chỉ chiếm 1.13 % và dân số 1. 41% toàn thể Việt Nam. Nhưng Thái Nguyên là một trong trung tâm kinh tế , chính trị của Việt Bắc ( gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn , Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang nói riêng và của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung. Đây cũng là cửa ngõ giao lưu kinh tế -xã hội giữa trung du miền núi với vùng đồng bắng Bắc Bộ,  qua cả ba hệ thống đường bộ , đường sắt , đường sông , hình rẽ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút. Thái Nguyên cũng là nơi tụ hội các nền văn hóa dân tộc, đầu mối các hoạt động văn hóa, giáo dục của vùng núi rộng lớn phía Bắc . Thật vậy, ở Thái Nguyên có nhiều tộc dân cùng chung sống. Tộc dân Kinh đa số, chiếm 75.51 % (con số cho năm 2000 ).  Thứ hai là Tày 10. 69 % ( trên 900 000 người cả nước , đông nhất ở tỉnh Cao Bằng ), thứ đến là Nùng (  gần 600 000 người, đông nhất ở tỉnh Lạng Sơn ), Dao hay Mán ( gần 350 000 người , đông nhất là ở tỉnh Hà Tuyên ) , Hoa ( khoảng 950 000 người rải rác trên 34 tỉnh , nhiều nhất là ở thành phố Sài Gòn ) ,Sán Dìu  (chừng 70 000 người, đông nhất là ở tỉnh Bắc Thái cũ ), Hmông - Mèo (gần 450 000 người)  , Sán Chay ( khoảng 80 000 người , đông nhất là tỉnh cũ  hợp nhất Hà Tuyên ) . Người Kinh sống tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn và vùng trung du. Các tộc dân khác sống chủ yếu trên vùng trung du và miền núi của tỉnh . 
 
Phân chia hành chánh
 
Theo  Đại Nam Nhất Thống Chí , tập IV , quyễn XX , vào năm Minh Mạng thứ 12 ( 1831 ) trấn Thái Nguyên chánh thức đổi thành tỉnh Thái Nguyên. Ngày 21 tháng 4 năm 1965, Thái Nguyên và Bắc Kạn  hợp nhất thành tỉnh Bắc Thái. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, quốc hội kỳ họp thứ 10 phê chuẩn việc tách tỉnh Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Thái Nguyên ngày nay có 1 thành phố là Thái Nguyên , một thị xã   là Sông Công và 7 huyện là : Đại Từ, Định Hóa, Đồng Hỷ , Phổ Yên,  Phú Bình, Phú Lương và Võ Nhai . Toàn tỉnh  nay có 180 xã , 22 phường, 13 thị trấn. Thị trấn ở huyện Định Hóa là Chợ Chu , ở Võ Nhai là Đình Cả , Ở Phú Binh là Úc Sơn . Phú Lương có 2 thị trấn là Đu và Giang Tiên . Đại Từ có hai thị trấn là Đại Từ và Quân Chu. Đồng Hỷ có 3 thị trấn là Chùa Hang , Trại Cau và Sông Cầu. Phổ Yên có 3 thị trấn là Bãi Bông, Bắc Sơn và Ba Hàng .
 
Địa hình
 
Địa hình Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi thấp , chạy theo hướng bắc - nam, thấp dần từ bắc xuống nam Bao quanh phía   tây nam và phía bắc là những dãy núi Tam Đảo , Ngân Sơn, Bắc Sơn . Phia tây nam là dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất   1590m , các vách núi dựng đứng, và kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam. Sở dĩ có tên Tam Đảo vì trên dãy núi này có ba ngọn là Phù Nghĩa , Thạch Bàn và Thiên Thị đều cao gần 1400m.  Dãy Tam Đảo phần lớn làm ranh giới cho  hai tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc. Lưu ý là vùng núi dãy Tam Đảo, dài 60km, có khu nghĩ mát cùng tên Tam Đảo nổi tiếng , độ cao 879m, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay, nguyên là tỉnh hợp nhất từ hai tỉnh Vĩnh Yên (  lập năm 1890 ) và tỉnh Phúc Yên ( lập năm 1905 ) vào tháng hai năm 1950, một bộ phận của tỉnh Vĩnh Phú ( Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất với tỉnh Phú Thọ ). Nhưng từ tháng 11 năm1996 lại được tách ra thành tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc . Thời chiến tranh Nam Bắc, hình như ở đỉnh Tam Đảo, vào thập niên 1960-70, Nga Sô có viện trợ phòng không rađar tân tiến cho miền Bắc để bắn hạ các phi cơ Mỹ oanh tạc Bắc Việt ( ? ) từ Biển Đông. Cả 3 dãy núi đều tỏa ra theo hình cánh cung. Cánh cung Bắc Sơn, độ cao trung bình 400- 500m , nhiều đá vôi ( nên có nhiều hang động , thung lũng sụp ) , chạy dọc thung lũng sông Thương lên đến Cao Bằng . Xin nhắc là thung lũng Ải Nam Quan thông qua Trung Hoa  ở Lạng Sơn, nằm trên thượng lưu sông Thương.  Cánh cung Ngân Sơn , trải dài từ Bắc Kạn lên đến Đồng Văn, thuộc tỉnh Cao Bằng, từ Bắc Kạn chạy theo hướng đông bắc đến Võ Nhai - Thái Nguyên. Cả 3 dãy núi này án ngữ, che chở Thái Nguyên khỏi gió mùa quá lạnh mùa đông. Dù rằng nhà thơ Tố Hửu, khi còn tinh thần quốc gia đầu kháng chiến 1946- 54, (chưa thương khóc ông độc tài đỏ Xít Ta Lin mười lần hơn cha mẹ …) lại cho rằng rét từ Thái Nguyên đổ sang Bắc Giang, không có gì cản trở :
Rét Thái Nguyên , rét về Yên Thế ( phía Tây Bắc - Bắc Giang )
Rét qua rừng Đèo Khế ( phía tây Thái Nguyên , ở ranh giới Tuyên Quang và Thái      Nguyên) rét sang…         .  
 
Khí hậu
 
 Vì địa thế thấp dần từ núi tương đối cao đến núi thấp và đồi trung du, trên phương diện nhiệt độ mùa đông, Thái Nguyên chia ra làm 3 vùng phụ:  vùng lạnh ở phía Bắc Võ Nhai ,vùng ôn hòa gồm Định Hóa,  Phú Lương và phía Nam Võ Nhai và vùng nóng nực gồm Đại Từ , Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên,  thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công. Khác biệt giữa những tháng nóng nhất và lạnh nhất là 13.7 0C ( trung bình tháng 6 là 28.90 C và tháng giêng là 15 .2 0 C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1300 - 1750 giờ, phân bố tương đối đều cho các tháng trong năm. Vũ lượng trung bình hàng năm khoảng 2000 - 2500mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng giêng. Lượng mưa tập trung nhiều hơn ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại các huyện Võ Nhai, Phú Lương, mưa ít hơn. Khỏang 87 % lượng mưa rơi vào mùa lũ lụt , từ tháng 5 đến tháng 10. Riêng lượng mưa tháng 8 chiếm gần 30 % tổng lượng mưa cả năm, nên thường gây ra lũ lụt.Vào mùa khô đặc biệt tháng 12, lượng mưa trong tháng chỉ bằng 0.5 % lượng mưa cả năm
Khí hậu Thái Nguyên tương đối thuận lợi cho việc phát triễn một sinh thái đa dạng nhiệt đới và bán ôn đới ( bán nhiệt đới ) cho nông nghiệp thực vật nước nhà .        
 
Thủy Văn
 
Thái Nguyên có 2 con sông chánh chảy qua là sông Công và sông Cầu. Sông Công có lưu vực 951 km2  , bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hóa, chạy dọc theo chân núi Tam Đảo. Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ , tạo thành hồ Núi Cốc , có mặt nước rộng 2500 ha.  Hồ chứa được 175 triệu m3 , tưới tiêu được cho 12 000 ha lúa 2 mùa , hoa màu, cây công nghiệp, cung cấp nước uống cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công. Sông Cầu ( (còn có tên là sông Như Nguyệt, sông Nguyệt Đức ) thuộc hệ thống sông Thái Bình có lưu vực rộng 3480 km2 , bắt nguồn từ Chợ Đồn - Bắc Kạn, chảy theo hướng bắc - đông nam. Lưu lượng nước mùa mưa là 3500m3 / giây , mùa kiệt là 7.5 m3 /giây . Trên sông này có hệ thống thủy nông Sông Cầu ( trong đó có đập dâng Thác Huống )   tưới cho 24 000 ha lúa hai vụ các huyện Phú Bình ( Thái Nguyên) và Hiệp Hòa, Tân Yên ( Bắc Giang )  .  
Ngoài ra trong tỉnh còn nhiều sông nhỏ khác , thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô. Trên các sông chảy qua tỉnh , có thể xây dựng nhiều công trình thủy điện kết hợp với thủy lợi qui mô nhỏ . Thái Nguyên có trữ lượng nước ngầm khá lớn, nhưng khai thác , sử dụng còn hạn chế . Nước ngầm tập trung ở khu vực Đồng Bẩm - Túc Duyên với trữ lựợng 27 308m3 // ngày.
 
Đất đai
 
Đất đai Thái Nguyên chia ra 3 nhóm: đất núi non chiếm 48.4 % diện tích phần cao độ hơn 200m và do các đá mắc ma ( magma ) , đá tảng và đá trầm tích tạo thành, thường là nhóm thỗ nhưỡng học feralit vàng và đỏ vàng- ferralit acrisols.; đất đồi chiếm 31.4 % diện tích do cát , sét hay phù sa dày đặc làm rạ, cũng thường thuộc nhóm thổ nhưỡng ferralit nâu vàng. Đất đồi ở vài nơi như Đại Từ, Phú Lương dày 120 - 200m hay hơn nữa, sườn dốc không cao lắm , từ 50  đến 20 0  lý tưởng trồng cây công nghệ. hay cây an trái rễ sâu. Đất dốc tụ và đất đồng bằng , thung lũng  hẹp ( có tên là dọc ) trên thềm phu sà cỗ, phù sa dọc sông suối, thường thuộc nhóm  đất xám bạc màu trên phù sa cỗ -  haplic acrisols , đôi khi thuộc nhóm đất xám gley - gleyish acrsisols , chiếm 12.4% hay bị lũ lụt hay hạn hán bất kỳ , nên thu họach khó khăn. 
Trên tổng quỹ đất, đất  nay đã được sử dụng chiếm 67.2 % diện tích tự nhiên, khoảng 220789 ha, Trong số đất đã được sử dụng vào năm 2000, đất dùng cho nông nghiệp là 76700 ha, đất lâm nghiệp 149700 ha, đất thổ cư 8200 ha, đất chuyên dùng 19600 ha .Như vậy , trong 10 năm qua, đất đã sử dụng lại it đi trong khi dân số lại gia tăng và phần dân số nông thôn ( trên 79% ) không giảm . Đất chưa sử dụng,   năm 2009, còn 109 669 ha, chiếm 30.8 % diện tích tự nhiên. Trong số này, chỉ có 1714 ha có khả năng sản xuất nông nghiệp, gàn 67 000 ha có khả năng lâm nghiệp và 41250 ha là đất đá vách núi, đồi trọc, khó lòng làm xanh tươi mau lẹ .  
           
          Vài thắng cảnh  Thái Nguyên
         
            Đáng kể ra nhất là thắng cảnh hồ Núi Cốc , cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km về hướng Tây Nam. Đi theo tỉnh lộ Đán - Núi Cốc trải nhựa phẳng phiu, uốn lượn qua những cánh rừng bạt ngàn, là tới khu du lịch Núi Cốc chưa phát triễn hoàn toàn tiềm năng. Sơn Thủy hửu tình, thiên nhiên kỳ thú vùng Núi Cốc đã nổi tiếng đẹp thiên tạo từ bao năm qua. Vùng này nên thơ và lung linh màu sắc huyền thoại của câu chuyện tình thủy chung truyền thuyết,  gắn  Nàng Công  với Chàng Cốc. Chuyện tình đẹp đẽ không kém, nhưng không được phổ biến như chuyện tình Trương Chi - Mỵ Nương. Dựa vào huyền thoại này,  chức quyền nghiệp đoàn Núi Cốc đã thiết lập ra Lâu Đài truyền thuyết - Palace legend  trong một hế thống hang động vùng núi Cốc, xây cất rộng 3000 mét vuông.  Hai tượng chàng Cốc và nàng Công sừng sửng trước của vào. Còn Lâu Đài, cách cổng  chừng 100m, hiện ra như một dãy núi với tượng  một ông Tiên cầm sào tre, hiện thân của chiến đấu cho điều thiện chống điều ác . Trong lâu đài là một dòng sưối nhân tạo chảy quanh hang. Hệ thống công trình kiến trúc kể lại  hình ảnh truyền thuyết Công và Cốc . Hai nhân vật này yêu nhau tha thiết , nhưng không thành sự thật được, vi địa vị xã hội khác nhau. Chàng Cốc đợi người yêu lâu đến nổi chàng biến thành Núi Cốc và Nàng Công khóc than đợi người yêu cũng quá dài năm tháng, nên biến thành con  sông Công  . Nước mắt nàng Công rơi tầm tả  đầy vùng đất Tân Cương , làm mọc lên cây vườn chè ( Trà ) Thái Nguyên ngon đặc biệt,  là trà Tân Cương ngày nay. Câu chuyện tình yêu bất diệt này chấm dứt khi thuyền chở du khách đến bến bải bờ sông để dùng thuyền, tàu khác thăm viếng Hồ Núi Cốc .
 
Hồ Núi Cốc là hồ nhân tạo, chắn ngang dòng sông Công, trên địa phận huyện Đại Từ , ở lưng chừng núi. Hồ Núi Cốc nguyên là một công trình thủy nông năm 1973 để điều hòa dòng chảy sông Công,  tưới ruộng cho các vùng thuộc 3 tỉnh Thái Nguyên,   Bắc Giang và Bắc Ninh. Hồ được khởi công xây dựng năm 1993 và hoàn tất năm 1994 . Hồ gồm một đập chính dài 480m và 6 đập phụ. Diện tích mặt hồ rộng 2500 hạ. Trên mặt hồ có 89 hòn đảo. Lòng hồ sâu 23m. Dung tích nước hồ là 175 triệu m3 , như đã nói trên.
  
 Thứ hai là di tích hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà thuộc xã Phú Thượng , huyện Võ Nhai , cách thành phố Thái Nguyên 42 km về phía đông bắc. Đây là một quần thể thắng cảnh đẹp của tỉnh Thái Nguyên, nhờ phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, nhiều dáng vẻ kỳ thú, có thác nước, dòng suối trong xanh, mùa hè khí hậu ôn hòa, mát mẻ. Danh thắng Phượng Hoàng, suối nước và bến tắm hang Mỏ Gà đã được Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1994 .
 
Phần II.  Lạm bàn phát triễn tỉnh Thái Nguyên : công nghệ sắt thép, khai khoáng, cơ khí , xây dựng , khu công nghệ hổ trợ;  phát triễn  du lịch, nông lâm mục : trà chè . cà phê chè , sắn - khoai mì công nghệ , sửa, ngư nghiệp lục địa.      
 
A - Các tiểu vùng kinh tế
Về đại thể , có thể chia Tỉnh Thái Nguyên ra làm hai tiểu vùng kinh tế :
- Vùng Trung tâm , bao gồm thành phố Thái Nguyên , các huyện Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công; chiếm 21 % diện tích tự. nhiên, 49 % dân số toàn tỉnh. Đây là vùng phát triễn của tỉnh với trọng tâm là : công nghiệp gang thép , gắn liền với sự phát triễn thành phố Thái Nguyên; công nghiệp khai khoáng; một số ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động như may , láp rắp điện tử ; thương mãi, ngân hàng, du lịch ở thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công; trồng và chế biến chè , trung tâm giáo dục - đào tạo đại học .    
 
- Vùng phía Bắc bao gồm các huyện Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ Đồng Hỷ , chiếm 87.9 % diện tích, 51 % dân số toàn tỉnh, chủ yếu là vùng núi, có nhiều tiềm năng về nông lâm nghiệp.  Đây cũng là địa bàn cư trú tập trung của đồng bào các tộc dân , ngoài Kinh.
    
 B - Phát triễn công nghiệp
 
Công nghiệp Thái Nguyên hình thành, từ những năm đầu của thập niên 1960 , lúc miền Băc xâm nhập mạnh mẽ miền Nam và Hoa Kỳ thay đổi chiến lược, chiến thuật bảo vệ miền Nam, luôn cả thực hiện chánh thể miền Nam hoàn toàn theo chánh sách  Hoa Kỳ mong muốn. Trải qua khoảng 4 thập niên thăng trầm do hậu quả của chiến tranh , do sự“đổi mới “ từ năm 1989 cơ chế quản lý … đến nay ngành công nghệ Thái Nguyên   đã có một cơ cấu tương đối ổn định hơn, với sự góp mặt của hầu hết các ngành như năng lượng , luyện kim , cơ khí , hóa chất, xây dựng…
 
1-      Công nghiệp luyện kim và sản xuất sắt thép,  xây dựng phôi thép là ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh nhà. Ngành công nghệ nặng gang thép chỉ mới đạt mức đáng kể với  kế họach phát triễn, cận đại hóa cho các năm 2007 - 2015, liên doanh với các hảng ngoại quốc hay mở rộng đầu tư sang Singapore( mua của hảng công nghệ thép Tata - Ân độ ?…) . Nhưng ngành gang thép Thái Nguyên cũng như ở nhiều tỉnh khác đang  tùy thuộc , dành nhau mỏ quặng sắt để tinh luyện.  
2-       
Khu gang thép Thái Nguyên bắt đầu xây dựng  từ năm 1958 do Trung Quốc giúp đở về mặt kỷ thuật,  thiết bị với công xuất thiết kế ban đầu là 100 000 tấn thép cán / năm, ở 3 công trình xây dựng lớn thuộc khu vực Lưu Xá, Cao Ngạn và Trại Cau. Lúc đó Lưu Xá là trung tâm. Thập niên 1960 , bị máy bay ném bom phá hủy phần lớn, khiến 20 000 người thất nghiệp . Năm 1975 , Cộng hòa Dân chủ Đức - Đông Đức giúp xây dựng, vận hành thêm nhà máy luyện cán thép Gia Sàng , công xuất thiết kế 50 000 tấn thép một năm. Ngay từ bước đầu khu công nghiệp được quan niệm có đủ cơ cấu một khu công nghệ nặng hiện đại, bao gồm các qui trình công nghệ từ khai thác, tuyễn rữa quặng, thiêu kết quặng , luyện gang, luyện thép  đến cán thép và một hệ thống các cơ sở phục vụ. Khu mỏ sắt  Trại Cau có thể sản xuất 250 - 300 000 tấn quặng /năm. Các  lò cao có dung tích 100m3 , công xuất mỗi lò 100 tấn/ngày. Ở Lưu Xá , luyện thép theo phương pháp lò Martin ( lò bằng ), mỗi mẻ thép cho 50 tấn, mỗi lò 150 tấn thép / ngày; xưởng cán thép có công xuất xấp xĩ 100 000 tấn thép cán/ năm . Ở Gia Sàng luyện thép theo phương pháp lò LD thổi ôc xy từ đỉnh, kỷ thuật tiến tiến hơn.
 
 Năm 1994, chánh quyền thành lập Tổ hợp Thép -Viêt Nam Steel Corporation viết tắt là VSC,   trong đó ngoài các nhà máy của VSC , còn thêm ba công ty khác là Tổ Hợp Sắt Thép Thái Nguyên - TISCO ( Thái Nguyên Iron and Steel Corporation ), hai công ty hợp doanh là Vinausteel (Việt Nam - Australia Joint Venture Company và Vinakyoei  (Việt Nam - Japan Steel Company ). Năm 2000, tuy Việt Nam đã sản xuất được 1.6 triệu tấn thép cán, tăng 165 lần hơn so với năm 1990, nhưng chỉ mới đáp ứng được 2/3 yêu cầu nội địa thép năm đó là trên 1.9 triệu tấn, một yêu cầu rất thấp kém so với nhiều nước Á Châu .
 
 Trại Cau Thái Nguyên sản xuất 200 000 tấn gang và 150 000 tấn thép. Năm 1996, nhà máy Vikimco đưa điện luyện cán thép 20 000 tấn một năm. Nhà máy Vinakyoei ở Phú Mỹ luyện phôi thép nhập khẩu cận đai nhất, sản xuất 240 000 tấn / năm  và nhà máy Vật Cách ở Hải Phòng 200000 tấn một năm , vào năm 1997 .
             
 Năm 2007, thế giới tiêu thụ 1 560 triệu tấn thép. Trung Quốc đứng hạng nhất 409 triệu tấn. Nhật đã tiêu thụ 100 triệu tấn; Ấn Độ 51 triệu tấn, Nam Hàn trên 48 triệu tấn, Nga trên 40 triệu tấn, Brasil trên 20 triệu tấn và Thái Lan 9.5 triệu tấn, 4 lần hơn Việt Nam. .Dự trù tiêu thụ thế giới năm 2010 là 1849 triệu tấn.
 
Kế họach tái tổ chức ngành gang thép 2007 - 20015,  thiết lập hay tân tiến hóa 6 nhà máy thép tại nước nhà, mong đạt 6.3 -   6.5 triệu tấn thép nhiều loại năm 2010 , 11 triệu tấn năm 2015 và 19- 22 triệu tấn năm 2015 . Như vậy sẽ  vượt yêu cầu trong nước, hy vọng sẽ xuất khẩu 0. 5 triệu tấn. Sau đó sẽ cố đạt 24 - 25 triệu mỗi năm, vượt hẳn mức sản xuất thép ở Thái Lan.
 
 Tuy ngành công nghệ thép Việt Nam tăng trưởng mau lẹ mấy năm gần đây, nhưng mức tăng trưởng theo Bộ Công Nghệ Thương Mãi  lại rất bấp bênh, trừ phi các nhà máy luyện thép tìm ra được nguồn cung cấp vững bền ở các tỉnh miền núi nước nhà, thay vì phụ thuộc   nhập khẩu sắt thép phế thải mảnh vụn - scrap metal đắt tiền. Dung tích các nhà máy thép cuộn - steel rolling mills nay đã gần gấp đôi   dung tích các nhà máy nước nhà tinh luyện quặng sắt thành thỏi thép - steel ingots .. Hơn nữa, 80 % thép thỏi Việt Nam sản xuất từ mảnh vụn sắt thép thải và giá cả thép dao động nhiều trên thị trường thép quốc tế. Theo Hiệp hội Thép Viêt Nam VSA , trong năm 2009 Việt Nam chỉ sản xuất được 2.6 triệu tấn, 60 % yêu cầu nội địa thép thỏi  mà thôi . Phải nhập khẩu mỗi năm thêm 2.2 triệu tấn nữa . Các doanh nghiệp nội địa thích thú chấm dứt nhập khẩu sắt phế thải mảnh vụn , vì họ cho rằng   làm các thỏi thép   từ quặng mỏ sắt trong nước có lợi hơn. Cũng vì vậy các nhà đầu tư ngoại quốc nay đã lựa chọn sản xuất thỏi thép từ các mỏ  quặng sắt và tinh luyện tại Việt Nam .
 
 Tổ hợp Sắt Thép Thái Nguyên TISCO đã khai trương giai đoạn 1 nhà máy cải thiện  làm thỏi thép , sản xuất  230 000 tấn gang từ 400 000 tấn quặng sắt một năm của các mỏ Trại Cau Thái Nguyên và Ngườm Chang tại Cao Bằng.  Từ tháng 7 năm 2009 , TISCO đã trở thành công ty hợp doanh - joint stock company và năm 2009 sản xuất thép của TISCO đã đứng hạng nhất nước nhà. Tuy phải giảm bớt nhân viên vì tự động hóa , tân tiến hóa khỏi các kỷ thuật chế tạo thép cỗ lỗ sĩ , ô nhiễm nhiều môi sinh… kiểu cũ Thiểm Tây - Trung Quốc , thay bằng lò mini - blast hay lò cơ khí hóa, phương pháp làm sạch nước thải , tái sử dụng các khí B- C, , thiết bị tăng hửu hiệu năng lượng, hệ thống dập tắt cốc khô v.v…. , TISCO năm 2009 cũng đã trả trung bình 4 triệu đồng VN ( trên 2000 đô la Mỹ  ) / năm cho mỗi nhân viên. Giai đoạn hai, nhà máy này sẽ cần đến 1 triệu tấn quặng , một số sẽ khai thác mỏ quặng Tiến Bộ ngay trong tỉnh nhà. Tuy nhiên dự trữ quặng sắt được xác nhận ở   tỉnh Thái Nguyên sắp cạn kiệt, ước luợng chỉ còn 38- 40 triệu tấn. TISCO hiện đang khai thác  mỏ Tiến Bộ , dự trữ chừng   24 triệu tấn và   dự trữ các mỏ Trại Cau   tổng cọng chỉ còn 3.5 triệu tấn( trong số dự trữ chừng 9 triệu tấn manhêtít hàm lựợng Fe trên 60% ), tạm  đủ cung cấp quặng cho TISCO và   Công ty Kim khí Gia Sàng. Trong lúc đó Công ty Thép Vạn Lợi ở Hải Phòng đang cố tìm nguồn cung cấp quặng cho nhà máy công ty sắp hoạt động cuối năm 2009. Tổ hợp Công ty Thép Hòa Phát, cũng ở Hải Phòng, gặp nhiều khó khăn vì  không kiểm soát được nguồn quặng sắt. Ở tỉnh Quảng Ninh, nhà máy mới Gang và Thép Đông Á, dung lượng 300 000 tấn / năm đã phải đóng cửa một lò luyện, sau khi hoạt động một tháng, vì thiếu nguyên liệu.
 
Theo thủ tục điều hòa hiện hành, ai muốn đầu tư làm công nghệ thép phải trình chánh quyền là dự án có nguồn cung cấp quặng vững bền, nhà máy phải trình bày là đủ quặng sắt hoạt động trong 15 năm. Muốn có đủ quặng sắt các công ty phải được phép chức quyền tỉnh địa phương cho phát triễn các mỏ quặng sắt. Nhưng các chức quyền địa phương lại muốn tinh luyên ngay ở tỉnh nhà, hầu phát triễn các công nghệ liên hệ địa phương. Cao Bằng, chẳng hạn,   có 20 mỏ quặng sắt, dự trữ ước lượng là 60 triệu tấn, phân bố ở Thạch Lâm, Bảo Lạc, thị xã Cao Bằng. Các mỏ Na Lũng, Nà Rua tổng trữ lượng khoảng 50 triệu tấn, chủ yếu cũng là quặng manhêtít hàm lượng Fe trên 60% . 12 dự án nhà máy thép đã nạp đơn xin đầu tư. Vài nhà máy như làm thép cơ cấu - structural steel , sản xuất hàng năm 500 000 tấn . Các nhà máy nhỏ  hơn làm các hợp[HAC1]   kim đặc biệt.  Một nhà đầu tư đã cho biết vì Cao Bằng không cho phép xuất tỉnh quặng sắt, công ty đã bắt buộc xây dựng nhà máy ở Cao Bằng,  dù rằng Cao Bằng thiếu hẳn hạ tầng cơ sở cần thiết. Như vậy phải xây dựng hạ tầng cơ sở để phát triễn công nghệ thép ở những tỉnh khác có nhiều trử lượng như mỏ Tòng Bá , tỉnh Hà Giang   có trữ lượng tổng cộng  200 triệu tấn  quartzit manhêtít, hàm lượng Fe 42 - 46 % hay tốt hơn nữa là mỏ Thạch Khê, huyện Thạch Hà , cách thị xã Hà Tĩnh 10 km, trữ lượng ước tính trên 500 triệu tấn quặng loại tốt , hàm lượng Fe 60 - 65 % , các tạp chất có như S, P , Pb , Zn …dưới qui định. Việt Nam đã thiết kế đầu tư 4 tỉ đô la Mỹ, sản xuất 4 triệu tấn thép / năm với quặng Thạch Khê,  sẽ khởi sự năm 2012 ( ? ) , mở đầu cho một tổ hợp luyện kim thứ hai đất nước ( ? ) với quặng sắt trong nước, như TISCO Thái Nguyên đã chuyễn hướng , từ năm 2007.      
 
3-      Công nghiệp khai khoáng thực thi chậm trễ, đặc biệt ở vùng mỏ Núi Pháo
 
Khoáng sản Thái Nguyên đa dạng gồm 34 loại, tập trung ở Đại Từ, thành phố     Thái Nguyên,  Đồng Hỷ ( Trại Cau ) Thần Sa ( Xa ) ( Võ Nhai ).
 
- Nhóm nguyên liệu đốt ( cháy ) gồm than mỡ, than đá, phân bố tập trung ở Đại Từ , Phú Lương.                 
-                                         Thái Nguyên là tỉnh có trữ lượng than mỡ đã được xác nhận lớn nhất nước, khoảng 8.5 triệu tấn năm 1999,  trong trữ lượng tiềm năng là 15 triệu tấn. Các mỏ chủ yếu là Phấn Mễ ( 2.1 triệu tấn ), Làng Cẩm ( 2.8 triệu tấn ), Âm Hồn ( 3.6 triệu tấn). Chất lượng than mỡ tương đối tốt. Than mỡ làm nhà máy “hóa cốc “ rẽ tiền , tốt hơn là phải dùng than đá anthracit. Có lẽ phải dò tìm thêm mạch than mở Thái Nguyên để khỏi phải nhập thêm than mỡ ngoại quốc làm “ hóa cốc “.
-                             
              Thái Nguyên cũng là tỉnh có trử lựợng than đá lớn thứ hai trong cả nước , sau tỉnh Quảng Ninh . Trữ lượng thăm dò, tìm kiếm khoảng 90 triệu tấn; chủ yếu ở Bá Sơn, Khánh Hòa ( 73,1 triệu tấn ), Núi Hồng ( 15 triệu tấn ), Cao Ngạn ( 1.9 triệu tấn ).   
 
                 -   Nhóm khoáng sản kim loại Thái Nguyên cũng có nhiều ưu thế so với các tỉnh khác trong vùng, có ý nghĩa đối với cả nước. 
 
                  * Kim loại đen .Ngoài các mỏ quặng sắt một số đã kể trên, Thái Nguyên đã phát hiện 3 mỏ ( 1 mỏ vừa , 2 mỏ nhỏ ) và 18 điểm quặng  kim loại đen titan, phân bố chủ yếu ở ;phía bắc Đại Từ . Khoáng hóa ti tan hàm lượng 30- 80 % ở quặng limônit này , tổng trữ lượng thăm dò đạt xấp xĩ 18 triệu tấn. Nhiều mỏ-điểm quặng măng gan- sắt , hàm lượng măng gan 40- 60% , trữ lượng 5 triệu tấn , phân bố rải rác nhiều nơi .   Tuy nhiên ngành luyên kim Thái Nguyên ( và làm pin ) hiện nay,  l chỉ  khai thác các mỏ Nà Pết ( Chiêm Hóa ) và Na Hang, thuộc tỉnh Tuyên Quang, trữ lượng xác nhận có phần ít hơn ( 3.2 triệu tấn )
 
                     * Kim loại màu. Thiếc wonfram là khoáng sản có tiềm năng ở Thái Nguyên.  Thiếc có ở Phục Linh , Núi Pháo thuộc huyện Đại Từ trữ lượng SnO2  là 13 600 tấn. Wonfram ở khu vực Đá Liền được đánh giá có quy mô lớn, trữ lượng khoảng 28 000 tấn , không  mấy kém vùng Pia Oắc ( Cao Bằng ) ( 23 000 tấn ) , vùng Quỳ Hợp ( Nghệ An , 36000 tấn thiếc sa khoáng và 50 000 tấn thiếc gốc ) và vùng Lâm Đồng ( trữ lượng cũng hàng chục ngàn tấn) .  Chì, kẻm được tìm thấy ở vùng Lang Hít, Thần Xa, Đại Từ , quy mô nhỏ, phân bố không tập trung. Đáng kể nhất là Lang Hít có trữ lượng 126 000 tấn, ít hơn mỏ Chợ Điền ( Bắc Kạn ) đã được khai thác từ thế kỷ thứ 19. Tuy nhiên trữ lượng kẻm - chì chỉ mới đánh giá ở một số mỏ cũ, tới độ sâu 30-40 m. Chắc chắn trữ lượng sẽ lớn hơn, nếu tiến hành thăm dò tiếp . Vàng chủ yếu là vàng sa khoáng, hàm lượng thấp, vài chục milligram một tấn ỏ khu vực Thần Xa, Na Rì, Bồ Cu . Đồng, niken, thủy ngân…  trử lượng không lớn , khai thác ít hiệu quả kinh tế , nếu không khám phá thêm trữ lượng .
             
Trở lại Trang Khoa Học
 
  Số lượt bạn đọc kể từ 01/9/2009 287826 visitors (1163826 hits) on this page!  
 
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=